
Tin nóng:
Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu tiêu lớn nhất của Việt Nam
Theo thống kê từ Cục Hải quan Việt Nam, xuất khẩu tiêu của Việt Nam trong tháng 7/2026 đạt 22,8 nghìn tấn, trị giá 149,5 triệu USD, giảm 5,3% về lượng và giảm 7% về trị giá so với tháng 6/2026, nhưng tăng 6,6% về lượng và tăng 5,3% về trị giá so với tháng 7/2025. 7 tháng năm 2026, xuất khẩu tiêu của Việt Nam đạt 168,8 nghìn tấn, trị giá 1,1 tỷ USD, tăng 16,7% về lượng và tăng 11,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Giá bình quân xuất khẩu tiêu của Việt Nam trong tháng 7/2026 đạt 6.543 USD/tấn, giảm 1,7% so với tháng 6/2026 và giảm 1,2% so với tháng 7/2025. 7 tháng năm 2026, giá bình quân xuất khẩu đạt 6.513 USD/ tấn, giảm 4,8% so với cùng kỳ năm 2025.

7 tháng năm 2026, xuất khẩu tiêu của Việt Nam đạt 168,8 nghìn tấn, trị giá 1,1 tỷ USD, tăng 16,7% về lượng và tăng 11,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Trong tháng 7/2026, xuất khẩu tiêu của Việt Nam tăng giảm trái chiều giữa các thị trường. So với tháng 6/2026, xuất khẩu sang nhiều thị trường giảm như: Hoa Kỳ, Đức, Ấn Độ, Hà Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất; ngược lại, xuất khẩu sang các thị trường Thái Lan, Hà Lan, Philippines và Anh lại tăng so với tháng 6/2026.
7 tháng năm 2026, Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu tiêu lớn nhất của Việt Nam với 41,5 nghìn tấn, trị giá 299,3 triệu USD, tăng 26,6% về lượng và tăng 20,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025, chiếm 24,6% trong tổng lượng xuất khẩu trong 7 tháng năm 2026, cao hơn so với mức 22,7% của 7 tháng năm 2025.
Ngoài ra, xuất khẩu tới nhiều thị trường ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng trong 7 tháng năm 2026 gồm: Thổ Nhĩ Kỳ tăng 102,3% về lượng và tăng 96,4% về trị giá, Thái Lan tăng 84,9% về lượng và tăng 64,4% về trị giá, Hà Lan tăng 41,7% về lượng và tăng 32% về trị giá, Ai Cập tăng 36% về lượng và tăng 30,8 về trị giá và Philippines tăng 21% về lượng và tăng 14,9% về trị giá.
Ở chiều ngược lại, xuất khẩu tiêu sang một số thị trường lớn lại giảm so với cùng kỳ năm 2025 như: Đức giảm 13,8% về lượng và giảm 17% về trị giá, Ấn Độ giảm 26,9% về lượng và giảm 31,5% về trị giá, Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất giảm 33,2% về lượng và giảm 37,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Dẫn số liệu từ Ủy Ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ, nhập khẩu tiêu của Hoa Kỳ trong 6 tháng đầu năm 2026 đạt 47,6 nghìn tấn, tri giá 359,8 triệu USD, tăng 4,6% về lượng và tăng 4,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Giá bình quân nhập khẩu tiêu vào Hoa Kỳ trong 6 tháng đầu năm 2026 đạt 7.564 USD/tấn, tăng 0,2% so với cùng kỳ năm 2025.
Việt Nam là nguồn cung tiêu lớn nhất cho thị trường Hoa Kỳ trong 6 tháng đầu năm 2026, đạt 38,2 nghìn tấn, trị giá 290,2 triệu USD, tăng 24,4% về lượng và tăng 22,7% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Thị phần tiêu của Việt Nam trong tổng lượng tiêu Hoa Kỳ nhập khẩu tăng mạnh từ 67,6% lên 80,4%, trong khi tỷ trọng về trị giá cũng tăng từ 68,9% lên 80,7%.
Trong khi đó, nhập khẩu tiêu của Hoa Kỳ từ 2 thị trường cung cấp lớn tiếp theo là Ấn Độ và Indonesia giảm. Cụ thể, trong 6 tháng đầu năm 2026, lượng tiêu Hoa Kỳ nhập khẩu từ thị trường Indonesia giảm 63,3% và từ Ấn Độ giảm 23,4% so với cùng kỳ năm trước.
Giá bình quân nhập khẩu tiêu từ Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ trong 6 tháng đầu năm 2026 đạt 7.593 USD/tấn, giảm nhẹ 1,7% so với cùng kỳ năm 2025. Tiếp theo, giá bình quân nhập khẩu từ Ấn Độ giảm 3,0%. Trái lại, giá bình quân nhập khẩu tiêu từ Indonesia tăng mạnh 17,4%, từ Trung Quốc tăng 4,8% và từ Brazil tăng 0,7%.
Giá hạt tiêu trong nước giảm nhẹ
Giá tiêu tại thị trường nội địa có xu hướng giảm nhẹ. Ngày 19/8/2026, giá thu mua tiêu tại hầu hết các vùng trồng trọng điểm giảm từ 1.000 - 2.000 đồng/kg so với ngày 19/7/2026. Mức giá thu mua hiện dao động trong khoảng 136.000 - 139.000 đồng/kg.
Trong đó, Đắk Nông tiếp tục là địa phương có giá tiêu cao nhất cả nước, ở mức 139.000 đồng/kg, giảm 1.500 đồng/kg so với một tháng trước. Tại Gia Lai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước và Đồng Nai, giá tiêu thu mua đều đạt 136.000 đồng/kg. Riêng tại Đắk Lắk giá tiêu giảm nhiều nhất 2.000 đồng/kg, ở mức 138.000 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, giá tiêu xuất khẩu ổn định ở mức cao khi nguồn cung không dồi dào, nhưng nhu cầu thị trường dường như nhạy cảm với giá cả khiến giá biến động trong biên độ hẹp. Tại Indonesia, tính đến ngày 19/8/2026, giá tiêu đen Lampung đạt 6.851 USD/tấn, tăng 1,1% so với ngày 19/7/2026. Tương tự, giá tiêu trắng Muntok cũng tăng 0,47%, lên mức 9.380 USD/tấn.
Tại Brazil, giá tiêu đen ASTA 570 ngày 19/8/2026 tăng 1,7% so với ngày 19/7/2026, đạt 5.900 USD/tấn. Trong khi đó, giá tiêu tại Malaysia giữ nguyên so với cùng kỳ tháng trước. Giá tiêu đen Kuching ASTA tiếp tục duy trì ở mức 9.300 USD/tấn, còn giá tiêu trắng ASTA ổn định ở mức 12.200 USD/tấn. Tại cảng khu vực TP.Hồ Chí Minh của Việt Nam, giá tiêu đen loại 500 g/l ở mức 5.990 USD/tấn, tăng 20 USD/tấn (tương đương tăng 0,3%) và loại 550 g/l đạt 6.050 USD/tấn, giữ nguyên so với ngày 19/7/2026. Trong khi đó, giá tiêu trắng ở mức 8.400 USD/tấn, tăng 150 USD/tấn (tương đương tăng 1,8%) so với ngày 19/7/2026.
Nhìn về giai đoạn nửa cuối năm 2026, giới phân tích nhận định xu hướng giá tiêu sẽ chịu chi phối mạnh mẽ bởi ba yếu tố cốt lõi: Nguồn cung nội địa, tiến độ xuất khẩu và nhu cầu từ các nền kinh tế lớn. Áp lực về nguồn cung nguyên liệu trong nước đang ngày càng trở nên rõ nét hơn, đây có thể là nhân tố chính hỗ trợ mặt bằng giá trong trung và dài hạn.