
Tin nóng:
Theo số liệu của Cục Hải quan, riêng trong tháng 4/2026, Việt Nam xuất khẩu than các loại đạt 168,88 nghìn tấn với trị giá 27,68 triệu USD, tăng 82,86% về lượng và tăng 48,44% về trị giá so với tháng 4/2025.
4 tháng đầu năm, lượng than xuất khẩu đạt đạt gần 492,68 nghìn tấn với trị giá 78,1 triệu USD, tăng mạnh 104,14% về lượng và tăng 69,44% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Giá xuất khẩu bình quân trong tháng 4 đạt khoảng 164 USD/tấn, cao hơn khoảng 10% so với đầu năm.

Nhật Bản là khách hàng nhập khẩu than lớn thứ hai của Việt Nam, chiếm 26,05% tổng lượng xuất khẩu. Ảnh minh hoạ
Theo các chuyên gia năng lượng, đà tăng này phản ánh xu hướng nhiều quốc gia đẩy mạnh tìm kiếm nguồn nhiên liệu thay thế cho khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) trong bối cảnh lo ngại rủi ro nguồn cung và biến động giá từ khu vực Trung Đông.
Trong 4 tháng, ASEAN là thị trường xuất khẩu than lớn nhất của Việt Nam đạt 235,46 nghìn tấn với trị giá 33,67 triệu USD, tăng 104,11% về lượng và tăng 65,92% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025; chiếm tỷ trọng 47,79% trong tổng lượng than xuất khẩu của cả nước (xấp xỉ mức 47,8% của 4 tháng năm 2025).
Trong cơ cấu thị trường, Indonesia là khách hàng nhập khẩu than lớn nhất của Việt Nam, chiếm khoảng 27% tổng lượng xuất khẩu. Trong 4 tháng đầu năm, Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này 132.231 tấn than, tăng 200% so với cùng kỳ; riêng tháng 4 ghi nhận mức tăng trưởng hơn 1.100%, chiếm 56,16% tổng lượng than xuất khẩu sang ASEAN; Philippines chiếm 27,6%; Thái Lan chiếm hơn 15% và Lào chỉ chiếm 1,19%. Giá xuất khẩu than trung bình 4 tháng sang thị trường ASEAN đạt 142,99 USD/tấn, giảm 18,7% so với cùng kỳ năm 2025.
Nhật Bản đứng thứ hai với 128.327 tấn và trị giá đạt 20,64 triệu USD, tăng mạnh 101,88% về lượng và tăng 63,46% về trị giá so với 4 tháng năm 2025; chiếm tỷ trọng 26,05%. Giá xuất khẩu than sang thị trường này 4 tháng năm 2026 đạt 160,87 USD/tấn, giảm 19,03% so với cùng kỳ năm 2025.
Xuất khẩu than sang Hà Lan 4 tháng cũng tăng mạnh 80,83% về lượng và tăng 58,38% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025, đạt gần 36,38 nghìn tấn với trị giá 7,73 triệu USD; chiếm tỷ trọng 7,38% (thu hẹp so với mức 8,34% của 4 tháng đầu năm 2025
Thị trường than toàn cầu cũng đang chứng kiến sự gia tăng nhu cầu trong ngắn hạn khi nhiều nền kinh tế tạm thời quay lại với nhiệt điện than nhằm giảm phụ thuộc vào khí đốt trong bối cảnh bất ổn địa chính trị và giá năng lượng biến động mạnh.
Dù xu hướng chuyển dịch sang năng lượng sạch vẫn là mục tiêu dài hạn của nhiều quốc gia, nhưng thực tế cho thấy than đá vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm an ninh năng lượng toàn cầu. Đối với Việt Nam, sự phục hồi của thị trường này đang mở ra cơ hội gia tăng kim ngạch xuất khẩu, đồng thời khẳng định khả năng thích ứng linh hoạt của ngành than trước những biến động của kinh tế thế giới.