
Tin nóng:
Xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt tăng mạnh
Trong 2 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam cho thấy tín hiệu tích cực về giá trị, trong khi sản lượng chỉ tăng nhẹ. Điều này phản ánh yếu tố giá xuất khẩu cải thiện, thay vì sự mở rộng mạnh về quy mô thị trường.
Theo số liệu của Cục Hải quan, 2 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 3,1 nghìn tấn thịt và các sản phẩm thịt, trị giá 23,1 triệu USD, tăng 4,5% về lượng và tăng 30,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Tuy nhiên, nếu đi sâu vào cấu trúc thị trường, có thể thấy bức tranh chưa thực sự vững chắc. Hồng Kông (Trung Quốc) vẫn là thị trường chủ lực, nhưng kim ngạch xuất khẩu sang đây lại giảm. Điều này cho thấy sự phụ thuộc lớn vào một thị trường đang dần suy yếu, tiềm ẩn rủi ro cho toàn ngành.
Trong 2 tháng năm 2026, xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt của Việt Nam tới 19 thị trường, trong đó Hồng Kông (Trung Quốc) vẫn là thị trường xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt lớn nhất của Việt Nam. Thị trường này hiện chiếm 40,79% về lượng và chiếm 51,27% về trị giá trong tổng xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt, với lượng đạt 1,3 nghìn tấn, trị giá 11,84 triệu USD, giảm 26% về lượng và giảm 4,7% về trị giá so với 2 tháng đầu năm 2025. Trong đó, thịt lợn sữa nguyên con đông lạnh và thịt lợn nguyên con đông lạnh vẫn là những sản phẩm xuất khẩu chủ yếu sang thị trường Hồng Kông (Trung Quốc).

Hồng Kông (Trung Quốc) là thị trường xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt lớn nhất của Việt Nam, chiếm 40,79% về lượng và chiếm 51,27% về trị giá trong tổng xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt của cả nước. Ảnh minh họa
Xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt của Việt Nam tới một số thị trường như: Hàn Quốc, Malaysia, UAE… cũng giảm cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Trong khi đó, xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt sang các thị trường trong 2 tháng đầu năm 2026 có mức tăng trưởng tốt cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2025 như: Trung Quốc, Pháp, Singapore, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Campuchia, Malaysia..
2 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam chủ yếu vẫn gồm các chủng loại như: Thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 43,38% về lượng và chiếm 53,87% về trị giá; thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ, của gia cầm thuộc nhóm 01.05 tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 35,91 về lượng và chiếm 31,4% về trị giá; thịt khác và phụ phẩm dạng thịt ăn được sau giết mổ của động vật khác tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 20,13% về lượng và chiếm 13,06% về trị giá; các chủng loại khác chiếm 0,58% về lượng và chiếm 1,67% về trị giá trong tổng xuất khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam trong 2 tháng đầu năm 2026.
Trong đó, thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh vẫn là chủng loại được xuất khẩu nhiều nhất, với lượng đạt 1,3 nghìn tấn, trị giá 12,45 triệu USD, giảm 19,9% về lượng và giảm 0,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh được duất khẩu chủ yếu tới thị trường Hồng Kông (Trung Quốc), giảm 21,6% về lượng và giảm 3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Nhập khẩu thịt gần 300 triệu USD
Thống kê sơ bộ từ số liệu của Cục Hải quan, 2 tháng năm 2026, Việt Nam nhập khẩu 131,1 nghìn tấn thịt và các sản phẩm từ thịt, trị giá 295,14 triệu USD, giảm 6,5% về lượng, nhưng tăng 1,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
2 tháng năm 2026, Ấn Độ vẫn là thị trường cung cấp thịt và các sản phẩm từ thịt lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 22,2% trong tổng lượng thịt và các sản phẩm từ thịt nhập khẩu của cả nước, với lượng đạt 29,1 nghìn tấn, trị giá 115,97 triệu USD, tăng 3,7% về lượng và tăng 21,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Nhập khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt từ một số thị trường cung cấp khác cũng tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2025 như: Canada, Đức, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Ý, New Zealand, Slovenia, Nhật Bản... Trong đó, nhập khẩu tăng mạnh nhất là từ thị trường Thổ Nhĩ Kỳ. Trái lại, nhập khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt giảm cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2025 từ một số thị trường như: Hoa Kỳ, Brazil, Nga, Ba Lan, Hà Lan, thị trường Hồng Kông (Trung Quốc), Bỉ...
2 tháng năm 2026, các chủng loại thịt Việt Nam chủ yếu nhập khẩu gồm: Thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ, của gia cầm thuộc nhóm 01.05, tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 39,56% về lượng và chiếm 17,77% về trị giá; thịt trâu tươi đông lạnh chiếm 20,94% về lượng và chiếm 37,66% về trị giá; thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 10,97% về lượng và chiếm 11,15% về trị giá; phụ phẩm ăn được sau giết mổ của lợn, trâu, bò sống ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 18,54% về lượng và chiếm 10,78% về trị giá; thịt bò tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 7,06% về lượng và chiếm 20,14% về trị giá; các mặt hàng khác chiếm 2,94% về lượng và chiếm 2,5% về trị giá trong tổng nhập khẩu chủng loại thịt 2 tháng năm 2026.
2 tháng năm 2026, nhập khẩu thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh của Việt Nam đạt 14,3 nghìn tấn, trị giá 32,91 triệu USD, giảm 37,6% về lượng và giảm 45,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, giá trung bình nhập khẩu thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh về Việt Nam trong 2 tháng năm 2026 ở mức 2.279 USD/tấn, giảm 13,3% so với cùng kỳ năm 2025.
Trong 2 tháng năm 2026, Việt Nam nhập khẩu thịt lợn từ 17 thị trường, trong đó Nga vẫn là thị trường cung cấp lớn nhất, chiếm 34,96% tổng lượng thịt lợn nhập khẩu về Việt Nam; Brazil chiếm 24,87%; Tây Ban Nha chiếm 14,84%; Đức chiếm 11,38%; Hà Lan chiếm 2,99%; Các thị trường khác chiếm 10,96%.
Trong tháng 03/2026, giá lợn hơi trên cả nước có xu hướng giảm so với tháng 02/2026, dao động trong khoảng 63.000 - 72.000 đồng/kg. Cụ thể: Giá lợn hơi tại khu vực miền Bắc dao động trong khoảng 63.000 - 71.000 đồng/kg, giảm từ 6.000 - 13.000 đồng/kg so với tháng 02/2026. Giá lợn hơi tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên dao động trong khoảng 65.000 - 72.000 đồng/kg, giảm từ 4.000 - 8.000 đồng/kg so với tháng 02/2026. Giá lợn hơi tại khu vực miền Nam dao động trong khoảng 66.000 - 72.000 đồng/kg, giảm từ 3.000 - 7.000 đồng/kg so với tháng 02/2026.