
Tin nóng:
Đường dây nóng: 0866.59.4498 - Thứ sáu 21/03/2025 14:01
Tin nóng:
Cục Xuất nhập khẩu dẫn số liệu thống kê sơ bộ từ số liệu của Cục Hải quan (Bộ Tài chính) cho biết, 7 tháng đầu năm 2025, Việt Nam xuất khẩu 13,05 nghìn tấn thịt và các sản phẩm thịt, trị giá 68,75 triệu USD, giảm 2,6% về lượng, nhưng tăng 22,6% về trị giá so với 7 tháng đầu năm 2024.
Trong 7 tháng đầu năm 2025, Việt Nam xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt tới 28 thị trường, trong đó Hồng Kông (Trung Quốc) vẫn là thị trường xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt lớn nhất của Việt Nam, chiếm 46,63% về lượng và chiếm 59,77% về trị giá trong tổng xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt của cả nước, với lượng đạt 6,08 nghìn tấn, trị giá 41,09 triệu USD, tăng 7,9% về lượng và tăng 23,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2024.
Sản phẩm thịt và các sản phẩm thịt của Việt Nam được xuất khẩu sang thị trường Hồng Kông (Trung Quốc) chủ yếu vẫn là thịt lợn sữa nguyên con đông lạnh và thịt lợn nguyên con đông lạnh. Tiếp theo xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt tăng trưởng cả về lượng và trị giá trong 7 tháng đầu năm 2025 so với cùng kỳ năm 2024 tới một số thị trường như: Trung Quốc, Canada, Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hà Lan, Liban… Tuy nhiên, xuất khẩu giảm tới các thị trường như: Bỉ, Hoa Kỳ, Malaysia, Campuchia...
Hồng Kông (Trung Quốc) là thị trường xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt lớn nhất của Việt Nam, chiếm 46,63% về lượng và chiếm 59,77% về trị giá trong tổng xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt của cả nước. Ảnh minh họa
Trong 7 tháng đầu năm 2025, xuất khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam chủ yếu gồm các chủng loại như thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 38% về lượng và chiếm 54,7% về trị giá; thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ, của gia cầm thuộc nhóm 01.05 tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 28,7 về lượng và chiếm 20,7% về trị giá; thịt khác và phụ phẩm dạng thịt ăn được sau giết mổ của động vật khác tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 32,8% về lượng và chiếm 23,3% về trị giá; các chủng loại khác chiếm 0,6% về lượng và chiếm 1,3% về trị giá trong tổng xuất khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2025.
Trong đó, thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh vẫn là chủng loại được xuất khẩu nhiều nhất, với lượng đạt 4,9 nghìn tấn, trị giá 37,6 triệu USD, giảm 9% về lượng, nhưng tăng 18,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, xuất khẩu tới thị trường chủ yếu là Hồng Kông (Trung Quốc) giảm 3,7% về lượng, nhưng tăng 21,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2024.
Theo thống kê sơ bộ từ số liệu của Cục Hải quan, trong 7 tháng đầu năm 2025, Việt Nam nhập khẩu 534,8 nghìn tấn thịt và các sản phẩm từ thịt, trị giá 1,06 tỷ USD, tăng 11% về lượng và tăng 13,1% về trị giá so với 7 tháng đầu năm 2024. Ấn Độ tiếp tục thị trường cung cấp thịt và các sản phẩm từ thịt lớn nhất cho Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2025, chiếm 17,86% trong tổng lượng thịt và các sản phẩm từ thịt nhập khẩu của cả nước, với lượng đạt 95,5 nghìn tấn, trị giá 334,51 triệu USD, giảm 10,8% về lượng và giảm 4,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2024.
Nhập khẩu thịt và các sản phẩm thịt của Việt Nam từ một số thị trường khác cũng giảm cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2024 như: Úc, Hà Lan, Iran, Đan Mạch, Trung Quốc, Các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất… Trong khi đó, Việt Nam tăng nhập khẩu thịt và các sản phẩm thịt từ các thị trường trong 7 tháng đầu năm 2025 như: Nga, Hoa Kỳ, Brazil, Ba Lan, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Hồng Kông (Trung quốc), Thổ Nhĩ Kỳ, Ý, Pháp, Bỉ, New Zealand, Slovenia, Algeria...
Trong 7 tháng đầu năm 2025, các chủng loại thịt Việt Nam chủ yếu nhập khẩu gồm: Thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ, của gia cầm thuộc nhóm 01.05, tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 39,4% về lượng và chiếm 20% về trị giá; thịt trâu tươi đông lạnh chiếm 16% về lượng và chiếm 28,6% về trị giá; phụ phẩm ăn được sau giết mổ của lợn, trâu, bò sống ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 19,6% về lượng và chiếm 13,6% về trị giá; thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 16,1% về lượng và chiếm 21,6% về trị giá; thịt bò tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 3,7% về lượng và chiếm 12,8% về trị giá; các mặt hàng khác chiếm 5,2% về lượng và chiếm 3,4% về trị giá trong tổng nhập khẩu thịt 7 tháng đầu năm 2025.
Trong 7 tháng đầu năm 2025, nhập khẩu thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh về Việt Nam đạt 86,1 nghìn tấn, trị giá 230,76 triệu USD, tăng 68,7% về lượng và tăng 98,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2024. Giá trung bình nhập khẩu thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh về Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2025 ở mức 2.676 USD/tấn, tăng 17,78% so với 7 tháng đầu năm 2024.
Trong 7 tháng đầu năm 2025, Việt Nam nhập khẩu thịt lợn từ 21 thị trường. Trong đó, Nga tiếp tục là thị trường cung cấp thịt lợn lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 47,49% tổng lượng thịt lợn nhập khẩu của cả nước; Tiếp theo là Brazil chiếm 32,06%; Tây Ban Nha chiếm 4,92%; Canada chiếm 4,37%; Ba Lan chiếm 3,2%; các thị trường khác chiếm 7,96%.
Trong tháng 8/2025, giá lợn hơi trên cả nước có xu hướng giảm so với tháng 7/2025, dao động trong khoảng 55.000 - 65.000 đồng/kg. Cụ thể: Giá lợn hơi tại khu vực miền Bắc dao động trong khoảng 55.000 - 65.000 đồng/ kg, những ngày đầu tháng 8/2025 giá giảm từ 4.000 - 5.000 đồng/kg, sau tiếp tục giảm 5.000 – 6.000 đồng/kg, đến cuối tháng giảm từ 5.000 - 7.000 đồng/kg so với cuối tháng 7/2025.
Giá lợn hơi tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên dao động trong khoảng 56.000 - 64.000 đồng/kg, trong những ngày đầu tháng 8/2025 giá lợn hơi giảm từ 4.000 - 7.000 đồng/kg, sau tiếp tục giảm 3.000 - 5.000 đồng/kg, những ngày cuối tháng giảm từ 4.000 - 7.000 đồng/kg so với những ngày cuối tháng 7/2025. Giá lợn hơi tại khu vực miền Nam dao động trong khoảng 58.000 - 65.000 đồng/ kg, những ngày đầu tháng 8/2025 giá lợn hơi giảm từ 3.000 - 7.000 đồng/kg, sau đó giảm 2.000 – 4.000 đồng/kg, những ngày cuối tháng giảm từ 3.000 – 6.000 đồng/kg so với những ngày cuối tháng 7/2025.