
Tin nóng:
Xuất khẩu cà phê tiến sát mốc 4,5 tỷ USD
Theo số liệu thống kê của Cục Hải quan Việt Nam, xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong nửa đầu tháng 6 năm 2026 đạt 58,0 nghìn tấn, trị giá 268,6 triệu USD, tăng 5,9% về lượng nhưng giảm 14,0% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Lũy kế tính từ đầu năm nay đến ngày 15/6/2026, xuất khẩu cà phê đạt 985,7 nghìn tấn, trị giá gần 4,5 tỷ USD, tăng 11,8% về lượng nhưng giảm 10,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Trong 5 tháng đầu năm 2026, cơ cấu chủng loại cà phê xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục tập trung vào cà phê Robusta, chiếm tới 73,8% tổng kim ngạch xuất khẩu. Bên cạnh đó, tỷ trọng cà phê chế biến tăng lên 17,9% cho thấy xu hướng tích cực trong việc nâng cao giá trị gia tăng và giảm dần xuất khẩu nguyên liệu thô. Mặc dù
cà phê Arabica và cà phê Excelsa còn chiếm tỷ trọng thấp, đặc biệt Excelsa chỉ đạt 0,06%, song mức tăng trưởng của nhóm hàng này cho thấy dư địa phát triển các chủng loại cà phê có giá trị gia tăng cao, góp phần đa dạng hóa cơ cấu sản phẩm xuất khẩu trong thời gian tới.
Thị phần cà phê Việt Nam tại Hoa Kỳ tiếp tục mở rộng
Dẫn số liệu thống kê từ cơ quan Hải quan Hoa Kỳ, 4 tháng năm 2026, Hoa Kỳ nhập khẩu cà phê đạt gần 499,3 nghìn tấn, trị giá gần 4,1 tỷ USD, giảm 5,7% về lượng và giảm 3,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
4 tháng năm 2026, giá bình quân nhập khẩu cà phê vào Hoa Kỳ đạt mức 8.188 USD/tấn, tăng 2,0% so với cùng kỳ năm 2025. Giá bình quân nhập khẩu cà phê của Hoa Kỳ từ thị trường Colombia, Brazil, Hôn-đu-rát, Mexico… tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2025. Trong khi đó, giá bình quân nhập khẩu cà phê của Hoa Kỳ từ Việt Nam giảm 15,3% so với cùng kỳ năm 2025, xuống mức 4.851 USD/tấn.
4 tháng năm 2026, Hoa Kỳ nhập khẩu cà phê từ 86 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Trong đó, Hoa Kỳ giảm lượng nhập khẩu từ thị trường Colombia, Brazil, trong khi tăng nhập khẩu từ thị trường Hôn-đu-rát, Việt Nam, Mexico.

5 tháng đầu năm 2026, cơ cấu chủng loại cà phê xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục tập trung vào cà phê Robusta, chiếm tới 73,8% tổng kim ngạch xuất khẩu
Colombia là nguồn cung cà phê lớn nhất cho Hoa Kỳ trong 4 tháng năm 2026, đạt 87,2 nghìn tấn, trị giá 766,6 triệu USD, giảm 29,0% về lượng và giảm 19,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Thị phần cà phê của Colombia trong tổng lượng nhập khẩu của Hoa Kỳ giảm từ 23,21% trong 4 tháng năm 2025 xuống mức 17,47% trong 4 tháng năm 2026.
Brazil là thị trường cung cấp cà phê lớn thứ hai cho Hoa Kỳ trong 4 tháng năm 2026, đạt 82,9 nghìn tấn, trị giá 624,9 triệu USD, giảm 46,0% về lượng và giảm 37,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Thị phần cà phê của Brazil trong tổng lượng nhập khẩu của Hoa Kỳ giảm từ mức 28,98% trong 4 tháng năm 2025 xuống mức 16,61% trong 4 tháng năm 2026. Việt Nam là thị trường cung cấp cà phê lớn thứ tư cho Hoa Kỳ trong 4 tháng năm 2026, đạt 47,6 nghìn tấn, trị giá 231,1 triệu USD, tăng 22,2% về lượng và tăng 3,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Thị phần cà phê của Việt Nam trong tổng lượng nhập khẩu của Hoa Kỳ tăng từ 7,36% trong 4 tháng năm 2025 lên mức 9,54% trong 4 tháng năm 2026. Thị trường cà phê Hoa Kỳ được dự báo tiếp tục tăng trưởng ổn định trong những năm tới nhờ quy mô tiêu thụ lớn, sức mua cao và văn hóa sử dụng cà phê lâu đời.
Cục Xuất nhập khẩu nhận định để khai thác thị trường cà phê Hoa Kỳ, doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng sản phẩm, phát triển thương hiệu, đáp ứng tiêu chuẩn an toàn và truy xuất nguồn gốc. Đồng thời, việc mở rộng kênh phân phối trực tiếp, thương mại điện tử và hợp tác với nhà rang xay hoặc nhà phân phối bản địa sẽ giúp tăng khả năng cạnh tranh và nâng cao giá trị xuất khẩu.
Giữa tháng 6/2026, giá cà phê nội địa tăng theo giá cà phê Robusta trên thị trường thế giới. Nguồn cung trong nước giảm dần, trong khi người dân có tâm lý giữ hàng chờ giá cao hơn, khiến lượng cà phê đưa ra thị trường hạn chế. Cùng với đó, lo ngại về thời tiết bất lợi tại các vùng sản xuất lớn cũng góp phần hỗ trợ đà tăng giá. Ngày 18/6/2026, giá cà phê tại các tỉnh Tây Nguyên tăng từ 2.200 - 2.600 đồng/kg so với ngày 01/6/2026, dao động trong khoảng 89.400 - 89.600 đồng/kg (tùy từng khu vực khảo sát).