
Tin nóng:
Xuất khẩu cà phê Robusta tăng mạnh
Theo số liệu thống kê của Cục Hải quan Việt Nam, xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong 15 ngày đầu tháng 8/2026 đạt 61,2 nghìn tấn, trị giá 266,1 triệu USD, tăng 46,8% về lượng và tăng 18,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế từ đầu năm nay đến ngày 15/8/2026, xuất khẩu cà phê đạt tổng cộng 1,26 triệu tấn, trị giá 5,72 tỷ USD, tăng 12,0% về lượng, nhưng giảm 10,0% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.

7 tháng năm 2026, xuất khẩu cà phê Robusta đạt gần 1,01 triệu tấn, trị giá 4,0 tỷ USD, tăng 11,4% về lượng
7 tháng năm 2026, xuất khẩu cà phê Robusta chiếm 73,3% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của cả nước, trong khi xuất khẩu các chủng loại khác chiếm tỷ lệ thấp. Cụ thể: Xuất khẩu cà phê Robusta gần 1,01 triệu tấn, trị giá 4,0 tỷ USD, tăng 11,4% về lượng, nhưng giảm 15,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025 do giá xuất khẩu giảm.
Xuất khẩu cà phê chế biến chiếm 19,5% tổng kim ngạch xuất khẩu, đạt 1,06 tỷ USD, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 2025. Tiếp đến, xuất khẩu cà phê Arabica chiếm 7,1% tổng kim ngạch xuất khẩu, đạt 58,5 nghìn tấn, trị giá 387,7 triệu USD, giảm 1,4% về lượng và giảm 1,5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Xuất khẩu cà phê Excelsa chiếm tỷ lệ thấp, đạt 985 tấn, trị giá 4,3 triệu USD, tăng 83,2% về lượng và tăng 44,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.
Việt Nam là thị trường cung cấp cà phê lớn thứ hai cho Nhật Bản
Dẫn số liệu thống kê của cơ quan Hải quan Nhật Bản, 6 tháng năm 2026, nhập khẩu cà phê của Nhật Bản đạt 173,0 nghìn tấn, trị giá gần 1,20 tỷ USD, giảm 9,3% về lượng, nhưng tăng 2,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
6 tháng năm 2026, giá bình quân nhập khẩu cà phê vào Nhật Bản đạt mức 6.922 USD/tấn, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, giá bình quân nhập khẩu cà phê của Nhật Bản từ các thị trường lớn đều tăng so với cùng kỳ năm 2025, riêng nhập khẩu từ Việt Nam giảm. Cụ thế, giá nhập khẩu cà phê của Nhật Bản từ Việt Nam giảm 16,4% so với cùng kỳ năm 2025, xuống còn 4.462 USD/tấn.
6 tháng năm 2026, Nhật Bản nhập khẩu cà phê từ 53 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Trong đó, Nhật Bản tăng lượng nhập khẩu từ thị trường Việt Nam, Tanzania…, trong khi giảm nhập khẩu từ Brazil, Colombia, Guatemala.
Brazil là nguồn cung cà phê lớn nhất cho Nhật Bản trong 6 tháng năm 2026, đạt 63,2 nghìn tấn, trị giá 471,6 triệu USD, giảm 15,3% về lượng, nhưng tăng 11,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Thị phần cà phê của Brazil trong tổng lượng nhập khẩu của Nhật Bản giảm từ 39,12% trong 6 tháng năm 2025 xuống mức 36,53% trong 6 tháng năm 2026.
Việt Nam là thị trường cung cấp cà phê lớn thứ hai cho Nhật Bản trong 6 tháng năm 2026, đạt 55,5 nghìn tấn, trị giá 247,8 triệu USD, tăng 5,0% về lượng, nhưng giảm 12,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Thị phần cà phê của Việt Nam trong tổng lượng nhập khẩu của Nhật Bản tăng từ mức 27,74% trong 6 tháng năm 2025 lên mức 32,10% trong 6 tháng năm 2026.
Colombia là thị trường cung cấp cà phê cho Nhật Bản đứng vị trí thứ ba trong 6 tháng năm 2026, đạt 15,3 nghìn tấn, trị giá 131,3 triệu USD, giảm 12,9% về lượng, nhưng tăng 3,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Thị phần cà phê của Colombia trong tổng lượng nhập khẩu của Nhật Bản giảm từ mức 9,20% trong 6 tháng năm 2025 xuống mức 8,83% trong 6 tháng năm 2026.
Nhật Bản là thị trường cà phê lớn, có sức tiêu thụ ổn định nhưng đặt ra yêu cầu cao về chất lượng, an toàn thực phẩm, bao bì và khả năng truy xuất nguồn gốc. Trong 6 tháng năm 2026, nhập khẩu cà phê của Nhật Bản có sự điều chỉnh do giá cà phê thế giới vẫn ở mức cao, đồng Yên suy yếu và áp lực lạm phát gia tăng.
Việc nhập khẩu cà phê từ Việt Nam vẫn tăng là tín hiệu tích cực, cho thấy cà phê của Việt Nam ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường. Thị phần gia tăng cho thấy sự quan tâm ngày càng lớn của các nhà nhập khẩu Nhật Bản đối với cà phê Việt Nam, đặc biệt là Robusta nhờ nguồn cung ổn định và giá cả cạnh tranh.
Cục Xuất nhập khẩu nhận định để tăng trưởng xuất khẩu vào thị trường này trong thời gian tới, doanh nghiệp Việt Nam cần nâng cao chất lượng, kiểm soát dư lượng và nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần đẩy mạnh phát triển cà phê rang xay, cà phê hòa tan và các sản phẩm tiện dụng phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng Nhật Bản. Việc từng bước chuyển từ cạnh tranh về giá sang cạnh tranh bằng chất lượng và giá trị gia tăng sẽ giúp cà phê Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh và củng cố vị thế bền vững tại thị trường này.