
Tin nóng:
Theo Cục Hải quan Việt Nam, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tháng 8/2026 đạt 1,14 tỷ USD, tăng 6,4% so với tháng 8/2025. Trong đó, xuất khẩu thủy sản sang Hoa Kỳ, Anh, Nga giảm so với tháng 8/2025, trong khi xuất khẩu sang các thị trường lớn khác đều tăng trưởng, trong đó tăng mạnh nhất tới thị trường Brazil với mức tăng 113,5% so với cùng kỳ năm 2025.
8 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đạt 7,99 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất, chiếm 23,74% tổng kim ngạch và tăng 33,9% so với cùng kỳ; Hoa Kỳ chiếm 15,68%; Nhật Bản chiếm 13,95%; Hàn Quốc chiếm 7,06%; Úc chiếm 3,15%; Anh chiếm 2,92%; các thị trường khác chiếm 33,49%.
Nhìn chung, xuất khẩu thủy sản sang các thị trường này đều tăng trưởng, tăng mạnh nhất tới thị trường Brazil tăng 46,1%; Trung Quốc tăng 33,9%; thị trường Đài Loan (Trung Quốc) tăng 22,8% so với cùng kỳ năm 2025.
Dẫn số liệu thống kê của Eurostat, nhập khẩu thủy sản của EU 6 tháng đầu năm 2026 từ các thị trường ngoại khối đạt 2,6 triệu tấn, trị giá 14,88 tỷ EUR (tương đương 17,35 tỷ USD), giảm 3,9% về lượng, nhưng tăng 0,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, EU tăng nhập khẩu thủy sản từ nhiều thị trường cả về lượng và trị giá như: Na Uy, Băng Đảo, Ấn Độ... Tuy nhiên, EU giảm nhập khẩu thủy sản từ các thị trường: Ecuador, Maroc, Trung Quốc, Anh, Hoa Kỳ... EU cũng giảm nhập khẩu thủy sản từ Việt Nam, với mức giảm 2% về lượng và giảm 4,8% so với cùng kỳ năm 2025.

Thị phần thủy sản của Việt Nam trong tổng nhập khẩu của EU từ thị trường ngoại khối chiếm 4,09% về lượng và chiếm 2,98% về trị giá trong 6 tháng đầu năm 2026.
Thị phần thủy sản của Việt Nam trong tổng nhập khẩu của EU từ thị trường ngoại khối chiếm 4,09% về lượng và chiếm 2,98% về trị giá trong 6 tháng đầu năm 2026. EU là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn trên thế giới (chiếm quy mô tiêu thụ hơn 30 tỷ EUR/ năm). Triển vọng nhập khẩu thủy sản của EU mang tính ổn định, nhu cầu tiêu thụ cao, nhưng đi kèm các yêu cầu khắt khe về tính bền vững.
Theo thống kê, EU phải nhập khẩu đến hơn 70% lượng thủy sản tiêu thụ do sản lượng khai thác nội khối suy giảm và tăng trưởng nuôi trồng nội địa chậm. Nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng thủy sản cao cấp như tôm, cá ngừ, mực, bạch tuộc giữ nhịp tăng trưởng tốt tại các quốc gia Nam Âu (Tây Ban Nha, Ý, Pháp) và các trung tâm phân phối chính như Hà Lan, Đức...
Do đó, vẫn còn nhiều cơ hội cho thủy sản Việt Nam gia tăng giá trị tại thị trường này. Tuy nhiên, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tới thị trường EU vẫn phụ thuộc lớn vào tiến trình gỡ “thẻ vàng” và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững ngày càng khắt khe của EU.
Tại Việt Nam, giá nguyên liệu đầu tháng 9/2026 nhìn chung ổn định, một số phân cỡ tăng nhẹ. Tại Phú Yên, giá tôm thẻ loại 100 con/kg tăng 3.000 đồng/kg. Tại Cà Mau, tôm sú loại 30 con/kg tăng 7.000 đồng/kg. Giá tôm, cá ngừ, tôm hùm và mực ống tại Phú Yên, Quảng Trị, Cà Mau và Đà Nẵng duy trì ổn định hoặc tăng nhẹ ở một số phân cỡ.
Diễn biến giá nguyên liệu tương đối ổn định tạo điều kiện cho doanh nghiệp duy trì hoạt động chế biến và xuất khẩu. Tuy nhiên, thị trường đầu ra đang phân hóa rõ hơn, đòi hỏi doanh nghiệp chủ động điều chỉnh sản phẩm và thị trường.