
Tin nóng:
Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) giữa ASEAN và 5 đối tác gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia và New Zealand, có hiệu lực từ năm 2022. Trong Văn kiện RCEP, các cam kết về thương mại dịch vụ được quy định tại Chương 8 về Thương mại dịch vụ. Bên cạnh đó, Chương 9 về Di chuyển thể nhân cũng đưa ra nhiều cam kết gắn với thương mại dịch vụ, liên quan đến việc nhập cảnh của cá nhân từ các nước thành viên RCEP vào thị trường của nhau để cung cấp dịch vụ hoặc thực hiện hoạt động đầu tư trong lĩnh vực dịch vụ.
Luật sư Cao Đăng Duy, Luật sư Thành viên, Trưởng Văn phòng Hà Nội, Công ty Luật Rajah & Tann LCT đã có cuộc trao đổi về các cam kết thương mại, đầu tư cũng như cơ hội từ các cam kết mở cửa thị trường dịch vụ và đầu tư của Hiệp định RCEP đối với doanh nghiệp.

Các cam kết về thương mại dịch vụ, đầu tư của Hiệp định RCEP mở cơ hội kinh doanh đối với doanh nghiệp ở Việt Nam.
Thiết lập hiện diện thương mại, kết nối đầu tư
- Thưa luật sư, Hiệp định RCEP không chỉ tập trung vào cắt giảm thuế quan mà còn đưa ra các cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ và đầu tư giữa 15 nước thành viên. Ông đánh giá như thế nào về mức độ mở cửa và những điểm đáng chú ý trong các cam kết này?
Luật sư Cao Đăng Duy: Hiệp định RCEP có cấu trúc cam kết khá đặc thù. Khác với tính chất đồng nhất của các FTA thế hệ mới với tiêu chuẩn cao, RCEP phản ánh sự dung hòa giữa các nền kinh tế có trình độ phát triển rất khác nhau.
Theo đó, mức độ mở cửa và những điểm đáng chú ý của RCEP cần được nhìn nhận trên ba khía cạnh. Thứ nhất, mức độ mở cửa phải được đánh giá theo từng ngành và từng nước. Điều 8.4 và Điều 8.5 của Hiệp định lần lượt đặt ra các nghĩa vụ về “đối xử quốc gia” và “tiếp cận thị trường”. Tuy nhiên, phạm vi áp dụng còn phụ thuộc vào biểu cam kết, các bảo lưu và ngoại lệ đính kèm Hiệp định. Vì vậy, không nên hiểu rằng việc tham gia RCEP đồng nghĩa với việc mọi lĩnh vực đều được mở cửa hoàn toàn.
Thứ hai, về dịch vụ, Điều 8.3 của Hiệp định quy định các nước có thể cam kết mở cửa thị trường dịch vụ theo hai phương thức: “chọn - cho”, tức là liệt kê những ngành được mở cửa cùng các điều kiện áp dụng theo Điều 8.7; hoặc “chọn - bỏ”, tức là áp dụng các nghĩa vụ mở cửa liên quan, trừ những nội dung được bảo lưu theo Điều 8.8. Việt Nam ban đầu thuộc nhóm lựa chọn phương thức “chọn - cho” và có nghĩa vụ chuyển đổi hoàn toàn sang phương thức “chọn - bỏ” không muộn hơn sáu năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, theo khoản 7 Điều 8.12.
Thứ ba, về đầu tư, Chương 10 kết hợp các quy định về tự do hóa, bảo hộ, xúc tiến và tạo thuận lợi đầu tư. Trong đó, Điều 10.16 quy định về “Xúc tiến đầu tư” và Điều 10.17 quy định về “Tạo thuận lợi cho đầu tư”. Nhìn chung, các quy định này phần nào làm rõ những lĩnh vực Nhà nước được duy trì dư địa chính sách và những lĩnh vực phải thực hiện nghĩa vụ mở cửa.
- Như vậy, theo ông, các cam kết về thương mại dịch vụ, đầu tư trong RCEP có thể mở ra những cơ hội cụ thể nào để doanh nghiệp mở rộng thị trường, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực?
Luật sư Cao Đăng Duy: Trước hết, đây là một thị trường đủ lớn để doanh nghiệp phải coi RCEP là một chiến lược khu vực, thay vì chỉ là một Hiệp định thương mại tự do (FTA) riêng lẻ. Theo Hiệp định, 15 nền kinh tế RCEP chiếm 27,6% GDP toàn cầu năm 2024 và có hơn 2,31 tỷ dân. Với Việt Nam, tổng kim ngạch thương mại với các thành viên RCEP năm 2025 đã đạt gần 503 tỷ USD.
Theo tôi, trước tiên là cơ hội xuất khẩu dịch vụ trước khi phải đầu tư để hiện diện thương mại tại thị trường nước ngoài. Điều 8.1 RCEP bao quát bốn phương thức cung cấp dịch vụ; Điều 8.4 và Điều 8.5 đặt ra các nghĩa vụ về đối xử quốc gia và tiếp cận thị trường trong phạm vi cam kết, bảo lưu của từng nước. Do đó, doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong những lĩnh vực có khả năng cung cấp dịch vụ xuyên biên giới, đặc biệt là công nghệ thông tin, dịch vụ kinh doanh, tư vấn, thiết kế, kỹ thuật và các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, có thể xem xét khả năng cung cấp dịch vụ từ Việt Nam trước khi phải thành lập pháp nhân tại thị trường đích.
Ngoài ra, đó là cơ hội thiết lập hiện diện thương mại và kết nối đầu tư trong chuỗi cung ứng khu vực. Điều này thể hiện tại: Điều 10.3 của hiệp định quy định về đối xử quốc gia đối với nhà đầu tư và khoản đầu tư; Điều 10.6 hiệp định hạn chế một số yêu cầu thực hiện; Điều 10.7 quy định về nhân sự quản lý cấp cao; Điều 10.8 hiệp định vận hành theo cơ chế danh mục bảo lưu. Ngoài ra, Điều 10.16 khuyến khích các hoạt động xúc tiến, kết nối doanh nghiệp; Điều 10.17 hiệp định yêu cầu các bên nỗ lực đơn giản hóa thủ tục đầu tư, công bố thông tin và duy trì đầu mối hỗ trợ nhà đầu tư.
Bên cạnh đó là cơ hội đưa nhân sự chủ chốt đi cùng hoạt động dịch vụ và đầu tư, nhưng quyền này đi kèm những điều kiện nhất định. Tại Điều 9.2 xác định các nhóm đối tượng có thể được cam kết gồm khách kinh doanh, người di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp và các nhóm khác được ghi trong Phụ lục IV. Điều 9.5 yêu cầu mỗi nước quy định rõ điều kiện và thời hạn lưu trú. Đây là công cụ thiết thực đối với doanh nghiệp có nhu cầu cử cán bộ quản lý, chuyên gia, nhân sự bán hàng hoặc nhân sự triển khai dự án sang thị trường các nước thành viên RCEP.
Khi xem xét các cơ hội đó, tôi cho rằng những nhóm lĩnh vực có dư địa tận dụng rõ hơn có thể bao gồm: công nghệ thông tin và dịch vụ số; dịch vụ chuyên môn và kỹ thuật; logistics, phân phối và các dịch vụ hỗ trợ chuỗi cung ứng; viễn thông và dịch vụ tài chính - những lĩnh vực có phụ lục riêng tại Chương 8; cùng các dịch vụ gắn với hoạt động đầu tư sản xuất trong khu vực. Đây là những nhóm ngành có tiềm năng về quy mô thị trường. Tuy nhiên, không nên hiểu rằng các lĩnh vực này được mở cửa hoàn toàn, bởi tài chính, viễn thông, vận tải và dịch vụ vẫn phụ thuộc và điều kiện cấp phép riêng của từng nước.

Luật sư Cao Đăng Duy, Luật sư Thành viên, Trưởng Văn phòng Hà Nội, Công ty Luật Rajah & Tann LCT.
Chủ động tìm hiểu các quy định
- Theo đó, để khai thác hiệu quả các cam kết về dịch vụ và đầu tư trong RCEP, luật sư có khuyến nghị gì về việc chủ động tìm hiểu biểu cam kết, lựa chọn phương thức thâm nhập thị trường và chuẩn bị năng lực pháp lý, quản trị để tận dụng cơ hội ?
Luật sư Cao Đăng Duy: Trước hết, trên cơ sở các quy định của Văn kiện Hiệp định, doanh nghiệp và nhà đầu tư nên tiếp cận các cam kết theo “3 lớp”, thay vì chỉ đọc tên Hiệp định. Cụ thể, doanh nghiệp cần đồng thời xác định các nghĩa vụ chung trong Chương 8, Chương 9 hoặc Chương 10; biểu cam kết và các bảo lưu của chính nước mà doanh nghiệp dự kiến đầu tư, kinh doanh; cũng như quy định pháp luật nội địa về giấy phép, điều kiện kinh doanh, vốn, lao động và tiêu chuẩn nghề nghiệp.
Thứ hai, doanh nghiệp và nhà đầu tư cần xác định đúng phương thức thâm nhập thị trường trước khi bỏ vốn, bảo đảm phù hợp với nguồn lực của mình. Nếu dịch vụ có thể được cung cấp xuyên biên giới, doanh nghiệp nên kiểm tra trước khả năng tiếp cận thị trường theo Phương thức 1 hoặc Phương thức 2 của Điều 8.1, thay vì mặc định phải thành lập công ty tại nước sở tại. Nếu cần thiết lập hiện diện thương mại, doanh nghiệp phải đồng thời kiểm tra các giới hạn về tiếp cận thị trường tại Điều 8.5, những nội dung bảo lưu trong biểu cam kết của nước sở tại và các nghĩa vụ về đầu tư tại Chương 10.
Đối với vấn đề nhân sự, doanh nghiệp cần nghiên cứu riêng Phụ lục IV của nước tiếp nhận, bởi Chương 9 chỉ bảo đảm việc di chuyển tạm thời đối với đúng nhóm đối tượng, trong thời hạn và theo các điều kiện đã cam kết. Đây không phải là quyền tự do tiếp cận thị trường lao động.
Thứ ba, doanh nghiệp và nhà đầu tư cũng nên so sánh RCEP với các FTA khác trước khi lựa chọn phương thức tiếp cận thị trường. Điều 20.2 trong Văn kiện RCEP xác nhận Hiệp định cùng tồn tại với các điều ước quốc tế hiện có và việc một FTA khác dành mức đối xử thuận lợi hơn không tự thân tạo ra xung đột với RCEP. Vì vậy, đối với một thị trường đồng thời thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định CPTPP, AANZFTA hoặc một FTA ASEAN+1, doanh nghiệp nên lập bảng so sánh từng cam kết về tỷ lệ sở hữu, hình thức pháp nhân, yêu cầu hiện diện tại chỗ, nhân sự và giấy phép để lựa chọn cơ sở pháp lý thuận lợi nhất.
Cuối cùng, doanh nghiệp và nhà đầu tư cần chuẩn bị hồ sơ tuân thủ ngay từ trước khi ký hợp đồng hoặc thành lập pháp nhân. Theo tôi, tối thiểu doanh nghiệp nên xây dựng một danh mục kiểm tra các điều kiện gia nhập thị trường, bao gồm: ngành nghề/mã CPC; tỷ lệ sở hữu nước ngoài; giấy phép chuyên ngành; điều kiện đối với giám đốc và chuyên gia; thị thực và thời hạn lưu trú; dữ liệu và an ninh mạng; thuế và ngoại hối; sở hữu trí tuệ; điều khoản giải quyết tranh chấp.
Điều 10.17 RCEP về tạo thuận lợi cho đầu tư cũng chỉ yêu cầu các nước tạo thuận lợi theo quy định pháp luật của mình. Vì vậy, doanh nghiệp không nên hiểu cam kết mở cửa thị trường đồng nghĩa với việc được miễn trừ các thủ tục pháp lý nội địa.
- Xin cảm ơn ông!
Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) được ký kết vào năm 2020 và có hiệu lực từ năm 2022, bao gồm 15 quốc gia. Trong so sánh với các FTA của ASEAN và ASEAN với các đối tác, Hiệp định RCEP có phạm vi cam kết rộng, mức độ tự do hóa mạnh và có tiêu chuẩn cao hơn ở nhiều khía cạnh. Do đó, việc thực thi RCEP đã được dự báo có tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế cũng như hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ở Việt Nam.