
Tin nóng:
Hồng Kông (Trung Quốc) là thị trường xuất khẩu thịt lớn nhất
Theo thống kê sơ bộ từ số liệu Cục Hải quan, 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 10,7 nghìn tấn thịt và các sản phẩm thịt, trị giá 72,06 triệu USD, giảm 17,7% về lượng, nhưng tăng 4,8% về trị giá so với 7 tháng đầu năm 2025.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, thịt và các sản phẩm thịt của Việt Nam được xuất khẩu tới 29 thị trường, trong đó Hồng Kông (Trung Quốc) vẫn là thị trường xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt lớn nhất của Việt Nam, chiếm 32,37% về lượng và chiếm 41,07% về trị giá trong tổng xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt, với lượng đạt 3,4 nghìn tấn, trị giá 29,59 triệu USD, giảm 42,8% về lượng và giảm 28% về trị giá so với 7 tháng đầu năm 2025.
Trong đó, thịt lợn sữa nguyên con đông lạnh và thịt lợn nguyên con đông lạnh vẫn là những sản phẩm chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Hồng Kông (Trung Quốc). Trái ngược xu hướng giảm xuất khẩu tới thị trường Hồng Kông (Trung Quốc), xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt sang một số thị trường trong 7 tháng đầu năm 2026 tăng trưởng tốt về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2025 như: Trung Quốc, Pháp, Singapore, Hoa Kỳ, Campuchia, Hà Lan, Đức... Bên cạnh đó, xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt sang các thị trường trong 7 tháng đầu năm 2026 giảm so với cùng kỳ năm 2025 gồm: Bỉ, Canada, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Hàn Quốc, Malaysia, Liban..

Hồng Kông (Trung Quốc) vẫn là thị trường nhập khẩu thịt và các sản phẩm thịt lớn nhất của Việt Nam, chiếm 32,37% về lượng và 41,07% về trị giá trong tổng xuất khẩu.
Trong 7 tháng, xuất khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam chủ yếu gồm các chủng loại như: Thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 34,97% về lượng và chiếm 44,09% về trị giá.
Thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ, của gia cầm thuộc nhóm 01.05 tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 36,35 về lượng và chiếm 32,45% về trị giá.
Thịt khác và phụ phẩm dạng thịt ăn được sau giết mổ của động vật khác tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 27,55% về lượng và chiếm 20,66% về trị giá. Các chủng loại khác chiếm 1,13% về lượng và chiếm 2,8% về trị giá trong tổng xuất khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam. Trong đó, thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh vẫn là chủng loại được xuất khẩu nhiều nhất, với lượng đạt 3,7 nghìn tấn, trị giá 31,77 triệu USD, giảm 23,6% về lượng và giảm 15,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025, trong đó xuất khẩu chủ yếu là Hồng Kông (Trung Quốc) giảm 26,1% về lượng và giảm 19% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Việt Nam nhập khẩu thịt lợn từ 19 thị trường
Ở chiều ngược lại, 7 tháng năm 2026, Việt Nam nhập khẩu 595,7 nghìn tấn thịt và các sản phẩm từ thịt, trị giá 1,7 tỷ USD, tăng 11,4% về lượng và tăng 32,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Ấn Độ tiếp tục là thị trường cung cấp thịt và các sản phẩm từ thịt lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 20,29% trong tổng lượng thịt và các sản phẩm từ thịt nhập khẩu, với lượng đạt 120,8 nghìn tấn, trị giá 521,28 triệu USD, tăng 26,5% về lượng và tăng 55,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Nhập khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt từ một số thị trường cung cấp khác cũng tăng trưởng cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2025 như: Hoa Kỳ, Brazil, Tây Ban Nha, Canada, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản, New Zealand, Slovenia... Tuy nhiên, nhập khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt giảm so với cùng kỳ năm 2025 cả về lượng và trị giá từ một số thị trường như: Nga, Hàn Quốc, Ba Lan, Hà Lan, Ý, Iran, Bỉ...
Trong 7 tháng, các chủng loại thịt Việt Nam chủ yếu nhập khẩu gồm: Thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ, của gia cầm thuộc nhóm 01.05, tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 36,49% về lượng và chiếm 12,99% về trị giá.
Thịt trâu tươi đông lạnh chiếm 18,89% về lượng và chiếm 29,28% về trị giá. Thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 18,82% về lượng và chiếm 10,9% về trị giá. Phụ phẩm ăn được sau giết mổ của lợn, trâu, bò sống ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 14,73% về lượng và chiếm 7,03% về trị giá.
Thịt bò tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 5,85% về lượng và chiếm 13,78% về trị giá. Các mặt hàng khác chiếm 5,22% về lượng và 26,01% về trị giá trong tổng nhập khẩu thịt.
Nhập khẩu thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh của Việt Nam đạt 112,09 nghìn tấn, trị giá 185,54 triệu USD, tăng 27,1% về lượng, nhưng giảm 20,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Trong đó, giá trung bình nhập khẩu thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh về Việt Nam ở mức 1.638 USD/tấn, giảm 38,4% so với cùng kỳ năm 2025. Trong 7 tháng, Việt Nam nhập khẩu thịt lợn từ 19 thị trường, trong đó Brazil là thị trường lớn nhất, cung cấp 44,5% tổng lượng thịt lợn nhập khẩu về Việt Nam.
Tiếp đến là Nga cung cấp 21,41%; Tây Ban Nha cung cấp 20,54%; Đức cung cấp 4,58%; các thị trường khác cung cấp 8,97% tổng lượng thịt lợn nhập khẩu.
Trong tháng 8/2026, giá lợn hơi trên cả nước tiếp tục xu hướng giảm so với tháng 7/2026, dao động trong khoảng 57.000 - 64.000 đồng/kg. Cụ thể: Giá lợn hơi tại khu vực miền Bắc dao động trong khoảng 57.000 - 64.000 đồng/kg, giảm từ 2.000 - 10.000 đồng/kg so với tháng 7/2026. Giá lợn hơi tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên dao động trong khoảng 57.000 - 62.000 đồng/kg, giảm từ 3.000 - 8.000 đồng/kg so với tháng 7/2026. Giá lợn hơi tại khu vực miền Nam dao động trong khoảng 57.000 - 62.000 đồng/kg, giảm từ 1.000 - 7.000 đồng/kg so với tháng 7/2026.