
Tin nóng:
Xuất khẩu thịt giảm lượng nhưng vẫn tăng trị giá
Theo thống kê sơ bộ từ số liệu của Cục Hải quan, 5 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 7,6 nghìn tấn thịt và các sản phẩm thịt, trị giá 50,62 triệu USD, giảm 17,8% về lượng, nhưng tăng 3,2% về trị giá so với 5 tháng đầu năm 2025. Trong 5 tháng đầu năm 2026, thịt và các sản phẩm thịt được xuất khẩu tới 25 thị trường, trong đó Hồng Kông (Trung Quốc) vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất, chiếm 33,29% về lượng và chiếm 43,34% về trị giá trong tổng xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt của Việt Nam, đạt 2,5 nghìn tấn, trị giá 21,93 triệu USD, giảm 42,2% về lượng và giảm 26,9% về trị giá so với 5 tháng đầu năm 2025.
Thịt lợn sữa nguyên con đông lạnh và thịt lợn nguyên con đông lạnh vẫn là những sản phẩm chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Hồng Kông (Trung Quốc). Sau thị trường Hồng Kông (Trung Quốc), xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt sang một số thị trường trong 5 tháng đầu năm 2026 tăng trưởng tốt về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2025 như: Trung Quốc, Pháp, Singapore, Hoa Kỳ, Campuchia, Hà Lan... Trái lại, xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt sang một số thị trường trong 5 tháng đầu năm 2026 giảm so với cùng kỳ năm 2025 như: Bỉ, Canada, Malaysia, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Liban..

5 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt sang 25 thị trường trên thế giới. Ảnh minh hoạ
Xuất khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam chủ yếu vẫn gồm các chủng loại như: Thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 35,7% về lượng và chiếm 46,49% về trị giá; thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ, của gia cầm thuộc nhóm 01.05 tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 37,92 về lượng và chiếm 32,91% về trị giá; thịt khác và phụ phẩm dạng thịt ăn được sau giết mổ của động vật khác tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 25,82% về lượng và chiếm 18,21% về trị giá; các chủng loại khác chiếm 0,56% về lượng và chiếm 2,4% về trị giá trong tổng xuất khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam.
Thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh vẫn là chủng loại được xuất khẩu nhiều nhất, với lượng đạt 2,7 nghìn tấn, trị giá 23,53 triệu USD, giảm 24,4% về lượng và giảm 15% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025; trong đó xuất khẩu tới thị trường chủ yếu là Hồng Kông (Trung Quốc) giảm 27% về lượng và giảm 19,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Việt Nam tăng cường nhập khẩu thịt
Ở chiều ngược lại, 5 tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập khẩu 408,5 nghìn tấn thịt và các sản phẩm từ thịt, trị giá 1,2 tỷ USD, tăng 11,4% về lượng và tăng 39,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. 5 tháng đầu năm 2026, Ấn Độ tiếp tục là thị trường cung cấp thịt và các sản phẩm từ thịt lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 22,61% trong tổng lượng thịt và các sản phẩm từ thịt nhập khẩu, với lượng đạt 92,3 nghìn tấn, trị giá 390,61 triệu USD, tăng 33% về lượng và tăng 63,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Bên cạnh đó, nhập khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt từ một số thị trường cung cấp khác cũng tăng trưởng cả lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2025 như: Hoa Kỳ, Brazil, Tây Ban Nha, Canada, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản, Slovenia... Trái lại, nhập khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt giảm cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2025 từ một số thị trường như: Nga, Hàn Quốc, Ba Lan, Argentina, Iran, Bỉ..
5 tháng đầu năm, các chủng loại thịt chủ yếu nhập khẩu vào Việt Nam gồm: Thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ, tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 37,8% về lượng và chiếm 13,2% về trị giá; thịt trâu tươi đông lạnh chiếm 21,1% về lượng và chiếm 30,9% về trị giá; thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 14,5% về lượng và chiếm 10,6% về trị giá; phụ phẩm ăn được sau giết mổ của lợn, trâu, bò sống ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 15,6% về lượng và chiếm 7,3% về trị giá; thịt bò tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 6% về lượng và chiếm 13,2% về trị giá; các mặt hàng khác chiếm 5% về lượng và chiếm 2,3% về trị giá trong tổng nhập khẩu thịt.
Trong 5 tháng, nhập khẩu thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh vào Việt Nam đạt 59,2 nghìn tấn, trị giá 128,27 triệu USD, tăng 2,5% về lượng, nhưng giảm 16% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Giá trung bình nhập khẩu thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh về Việt Nam trong 5 tháng đầu năm ở mức 2.152 USD/ tấn, giảm 18,5% so với cùng kỳ năm 2025. 5 tháng đầu năm, Việt Nam nhập khẩu thịt lợn từ 18 thị trường, trong đó Nga vẫn là thị trường lớn nhất, chiếm 29,4% tổng lượng thịt lợn nhập khẩu; Brazil chiếm 22,5%; Tây Ban Nha chiếm 30,4%; Đức chiếm 6,6%; các thị trường khác chiếm 11,1%.
Trong tháng 6/2026, giá lợn hơi trên cả nước có xu hướng giảm so với tháng 5/2026, dao động trong khoảng 63.000 - 68.000 đồng/kg. Cụ thể: Giá lợn hơi tại khu vực miền Bắc dao động trong khoảng 67.000 - 68.000 đồng/kg, trong những ngày đầu tháng giá tăng từ 1.000 - 2.000 đồng/kg, sau lại giảm từ 1.000 - 3.000 đồng/kg so với tháng 5/2026.
Giá lợn hơi tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên dao động trong khoảng 66.000 - 68.000 đồng/kg, trong tháng giá giảm từ 1.000 - 2.000 đồng/kg so với tháng 5/2026. Giá lợn hơi tại khu vực miền Nam dao động trong khoảng 63.000 - 68.000 đồng/kg, trong tháng giá giảm từ 1.000 - 8.000 đồng/kg so với tháng 5/2026.