
Tin nóng:
Xuất khẩu rau quả tăng mạnh
Ngành rau quả Việt Nam đang bước vào năm 2026 với nhiều tín hiệu tích cực khi xuất khẩu duy trì đà tăng trưởng mạnh tại hàng loạt thị trường lớn. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu đạt kim ngạch 10 tỷ USD, ngành hàng này vẫn phải đối mặt với hàng loạt rào cản liên quan đến logistics, chất lượng sản phẩm, kiểm nghiệm và truy xuất nguồn gốc.

4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu rau quả đạt gần 2,06 tỷ USD, tăng khoảng 22% so với cùng kỳ năm trước. Ảnh minh họa
Chia sẻ tại “Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu nông lâm thủy sản phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu năm 2026”, ông Nguyễn Đình Tùng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam (Vinafruit), cho biết, 4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu rau quả đạt gần 2,06 tỷ USD, tăng khoảng 22% so với cùng kỳ năm trước. Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất của rau quả Việt Nam khi chiếm hơn 50% thị phần với kim ngạch vượt 1 tỷ USD. Việc ký kết nghị định thư cho quả bưởi và chanh được xem là động lực mới giúp mở rộng xuất khẩu vào thị trường tỷ dân này. Bên cạnh đó, các thị trường trọng điểm như Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản và khu vực Trung Đông cũng duy trì mức tăng trưởng 15-20%.
Đáng chú ý, cơ cấu xuất khẩu đang có sự chuyển dịch tích cực khi tỷ trọng hàng chế biến ngày càng tăng. Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư mạnh hơn vào chế biến sâu với các sản phẩm đông lạnh, sấy khô và nước quả cô đặc nhằm gia tăng giá trị xuất khẩu.
Theo Vinafruit, xuất khẩu chính ngạch hiện ngày càng đóng vai trò chủ đạo, dù xuất khẩu tiểu ngạch vẫn được duy trì nhờ lợi thế linh hoạt về logistics. Từ đà tăng trưởng hiện nay, ngành rau quả đang đặt mục tiêu hướng tới mốc kim ngạch 10 tỷ USD trong năm 2026.
Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, ngành rau quả vẫn đang đối mặt với nhiều điểm nghẽn lớn. Theo ông Nguyễn Đình Tùng, áp lực logistics và chi phí vận tải hiện là thách thức hàng đầu. Trong khi đó, hạ tầng tại các vùng nguyên liệu chưa đáp ứng yêu cầu về thu hoạch, bảo quản và vận chuyển. Tình trạng thiếu kho lạnh và chuỗi cung ứng lạnh khiến chi phí logistics tăng cao, đồng thời tỷ lệ hao hụt sau thu hoạch vẫn lớn hơn nhiều so với các quốc gia cạnh tranh.
Ngoài áp lực chi phí, ngành rau quả còn phải đối mặt với yêu cầu ngày càng khắt khe về chất lượng và an toàn thực phẩm. Theo Vinafruit, thời gian qua vẫn xuất hiện tình trạng một số lô hàng rau quả như sầu riêng, thanh long, chanh leo hay ớt vi phạm quy định về an toàn thực phẩm tại các thị trường khó tính như EU, Nhật Bản, Trung Quốc và Đài Loan (Trung Quốc). Cùng với đó, nhiều quốc gia nhập khẩu đang gia tăng hàng rào kỹ thuật và các tiêu chuẩn phi thuế quan, tạo áp lực lớn cho doanh nghiệp xuất khẩu.
Một vấn đề đáng lo ngại khác là tình trạng vi phạm mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói vẫn diễn ra, tiềm ẩn nguy cơ bị đình chỉ xuất khẩu nếu không được kiểm soát chặt chẽ. “Hiện hệ thống truy xuất nguồn gốc vẫn còn nhiều bất cập khiến doanh nghiệp lúng túng trong quá trình triển khai”, ông Nguyễn Đình Tùng cho biết.
Ngoài ra, năng lực công nghiệp chế biến sâu của ngành rau quả vẫn còn hạn chế khi hơn 70% sản phẩm hiện vẫn xuất khẩu dưới dạng tươi. Điều này khiến khả năng điều tiết tiêu thụ trong giai đoạn cao điểm mùa vụ còn yếu, đồng thời giá trị gia tăng chưa cao.
Siết chất lượng, truy xuất nguồn gốc để giữ đà tăng trưởng bền vững
Để tháo gỡ các điểm nghẽn trước mắt, Vinafruit đề xuất nhóm giải pháp cấp bách cho năm 2026, trong đó ưu tiên hàng đầu là kiểm soát chất lượng và chấm dứt tình trạng hàng xuất khẩu có dư lượng chất cấm vượt ngưỡng quy định.
Hiệp hội cũng kiến nghị các cơ quan chức năng tăng cường hậu kiểm, kiểm soát chặt mã số vùng trồng và xử lý nghiêm các trường hợp gian lận nhằm bảo vệ uy tín nông sản Việt Nam. Bên cạnh đó, cần nâng cao năng lực của các đơn vị kiểm nghiệm, giám định để rút ngắn thời gian trả kết quả, phục vụ doanh nghiệp với chi phí hợp lý hơn.
Vinafruit đồng thời đề xuất tiếp tục đàm phán mở cửa thị trường cho các mặt hàng tiềm năng như dứa, bơ, na dai và roi; hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận các tuyến vận tải ưu tiên, đặc biệt là vận tải hàng không cho nhóm trái cây cao cấp có thời gian bảo quản ngắn.
Ở góc độ quản lý nhà nước, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng cho rằng nhiệm vụ cấp bách hiện nay là tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp xuất khẩu, đặc biệt đối với ngành hàng sầu riêng.
Theo Thứ trưởng, sau khi phân cấp cho địa phương, Bộ đã đề nghị UBND các tỉnh, thành chỉ đạo các đơn vị kiểm nghiệm không được từ chối tiếp nhận mẫu của doanh nghiệp nhằm tránh ùn ứ nông sản trong cao điểm thu hoạch.
“Giải pháp căn cơ không chỉ nằm ở khâu kiểm nghiệm mà phải bắt đầu từ chất lượng sản phẩm, xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn, gắn với mã số vùng trồng và truy xuất nguồn gốc toàn bộ chuỗi sản xuất”, ông Võ Văn Hưng nhấn mạnh.
Liên quan đến vấn đề tồn dư Cadimi trên sầu riêng, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng nguyên nhân chủ yếu đến từ đất và môi trường canh tác, không phải do người dân cố tình sử dụng chất cấm. Do đó, giải pháp lâu dài là cải tạo đất, thay đổi phương thức canh tác, khuyến khích luân canh cây trồng và áp dụng quy trình sản xuất bền vững nhằm kiểm soát nguy cơ tồn dư kim loại nặng.
Theo các chuyên gia, doanh nghiệp trong ngành sầu riêng, rủi ro không chỉ nằm ở khâu xét nghiệm mà xuất phát từ toàn bộ chuỗi sản xuất. Có trường hợp mẫu lấy tại vùng trồng đạt chuẩn nhưng khi doanh nghiệp gom hàng từ nhiều khu vực khác nhau vào cùng container thì nguy cơ phát sinh vi phạm rất lớn.
Do đó, việc địa phương xây dựng đề án cải tạo đất nhằm xử lý Cadimi, đồng thời nghiên cứu mô hình phòng thí nghiệm phân tích đất tương tự Hàn Quốc để hỗ trợ nông dân đánh giá chất lượng đất và đưa ra giải pháp cải tạo phù hợp. Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh số hóa dữ liệu vùng trồng và truy xuất nguồn gốc nhằm rút ngắn thời gian xác minh thông tin sẽ góp phần nâng cao tính minh bạch cho toàn bộ chuỗi sản xuất và xuất khẩu nông sản.
Vượt qua nhiều thách thức, tính chung 4 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt gần 2,06 tỷ USD. Đây là mức tăng trưởng vô cùng ấn tượng, lên tới 22% so với cùng kỳ năm 2025.