
Tin nóng:
Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) dẫn số liệu của cơ quan Thống kê châu Âu (Eurostat), nhập khẩu hạt tiêu của EU trong tháng 3/2026 đạt 7,63 nghìn tấn, trị giá 56,98 triệu EUR (tương đương 65,47 triệu USD), giảm 4,8% về lượng và giảm 3,2% về trị giá so với tháng 02/2026. So với tháng 3/2025, lượng nhập khẩu giảm 9,2%, trong khi trị giá chỉ giảm 4,0%, do giá bình quân nhập khẩu tăng 5,8%, lên 7.471 EUR/tấn (8.585 USD/tấn).
Trong đó, nguồn cung từ các thị trường ngoài EU chiếm khoảng 54,3% tổng lượng nhập khẩu của khối, đạt 4,15 nghìn tấn, trị giá 27,85 triệu EUR (tương đường 32,0 triệu USD), giảm mạnh 19,3% về lượng và giảm 21,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025, cho thấy nhu cầu nhập khẩu trực tiếp từ các nước sản xuất đang suy yếu.
Ngược lại, nhập khẩu nội khối tăng 6,5% về lượng và tăng 21,2% về trị giá, đạt 3,48 nghìn tấn, trị giá 29,13 triệu EUR (tương đương 33,47 triệu USD), phản ánh vai trò ngày càng lớn của các trung tâm trung chuyển và tái xuất trong nội bộ EU.

3 tháng đầu năm 2026, EU nhập khẩu từ Việt Nam 7,8 nghìn tấn hạt tiêu, trị giá 59,08 triệu USD. Ảnh minh hoạ
Lũy kế 3 tháng đầu năm 2026, EU nhập khẩu 22,91 nghìn tấn hạt tiêu, trị giá 168,89 triệu EUR (tương đương 194,07 triệu USD), giảm 10,5% về lượng và giảm 6,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Giá bình quân nhập khẩu đạt 7.372 EUR/tấn (8.471 USD/tấn), tăng 4,2%. Đáng chú ý, lượng nhập khẩu từ nguồn ngoại khối giảm tới 18,6%, trong khi nhập khẩu nội khối vẫn tăng 3,1%, cho thấy hoạt động thương mại hạt tiêu của EU đang có xu hướng tập trung hơn vào các đầu mối phân phối trong khối. Việt Nam tiếp tục là nhà cung cấp hạt tiêu lớn nhất cho EU trong số các thị trường ngoài khối.
Tháng 3/2026, EU nhập khẩu từ Việt Nam 2,54 nghìn tấn hạt tiêu, trị giá 18,75 triệu USD, chiếm 61,3% tổng lượng nhập khẩu ngoại khối và khoảng 33,3% tổng lượng nhập khẩu hạt tiêu của EU. Tuy nhiên, lượng nhập khẩu từ Việt Nam giảm 20,2% và trị giá giảm 25,1% so với tháng 3/2025.
Giá bình quân nhập khẩu hạt tiêu từ Việt Nam vào EU trong 3 tháng đầu năm ở mức 7.576 USD/tấn, thấp hơn mức bình quân chung của EU (8.471 USD/tấn), cho thấy hạt tiêu Việt Nam vẫn duy trì lợi thế cạnh tranh về giá, nhưng đồng thời cũng phản ánh dư địa nâng cao giá trị gia tăng thông qua chế biến sâu và phát triển các dòng
sản phẩm chất lượng cao vẫn còn khá lớn.
Tính chung 3 tháng đầu năm 2026, EU nhập khẩu từ Việt Nam 7,8 nghìn tấn hạt tiêu, trị giá 59,08 triệu USD, giảm 24,3% về lượng và giảm 27,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Việt Nam vẫn duy trì vị thế nhà cung cấp lớn nhất khi chiếm khoảng 59,7% tổng lượng nhập khẩu ngoại khối và khoảng 34,0% tổng lượng nhập khẩu hạt tiêu của toàn EU.
Xét trong cơ cấu nguồn cung ngoại khối, khoảng cách giữa Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh vẫn rất lớn. Trong 3 tháng đầu năm 2026, lượng hạt tiêu EU nhập khẩu từ Việt Nam cao gấp khoảng 3 lần Brazil (2,60 nghìn tấn), hơn 10 lần so với Indonesia (739 tấn) và hơn 12 lần so với Ấn Độ (648 tấn). Điều này cho thấy Việt Nam vẫn giữ vai trò trung tâm trong chuỗi cung ứng hạt tiêu của EU, bất chấp xu hướng sụt giảm nhập khẩu chung của thị trường.
Tuy nhiên, việc thị phần của Việt Nam giảm từ 40,3% trong tổng lượng nhập khẩu hạt tiêu của EU trong 3 tháng đầu năm 2025, xuống còn 34,0% trong cùng kỳ năm 2026 cho thấy áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng từ các nguồn cung khác, đồng thời phản ánh nhu cầu tiêu thụ hạt tiêu tại EU vẫn chưa phục hồi hoàn toàn. Trong thời gian tới, lợi thế về nguồn cung ổn định, năng lực chế biến và ưu đãi thuế quan từ Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) sẽ tiếp tục là yếu tố quan trọng giúp hạt tiêu Việt Nam duy trì vị thế dẫn đầu tại thị trường này.