
Tin nóng:

Đường dây nóng: 0866.59.4498 - Thứ sáu 21/03/2025 14:01
Tin nóng:
Từ “báu vật dưới tán rừng” đến nỗi lo môi sinh
Thảo quả là thứ gia vị đỏ thắm được ví như “báu vật dưới tán rừng”, từng là chỗ dựa sinh kế của hàng nghìn hộ đồng bào vùng núi phía Bắc. Nhưng cũng chính nó, trong một thời gian dài, lại trở thành gánh nặng môi trường vì phương thức canh tác lạc hậu. Chỉ đến khi khoa học, công nghệ được đưa vào từng thửa rừng, khi mô hình hợp tác xã kết nối bà con lại với nhau, hành trình thoát nghèo của vùng biên mới thực sự mở ra.
Đó là hành trình mà mỗi hạt thảo quả khô hôm nay không chỉ mang giá trị kinh tế, mà còn chứa đựng niềm tin, sự đổi thay và cả quá trình hồi sinh của những mái nhà nơi lưng chừng núi.

Thảo quả không chỉ là gia vị mà còn là chỗ dựa sinh kế của hàng nghìn hộ đồng bào vùng núi phía Bắc. Ảnh minh họa
Vùng núi phía Bắc với khí hậu mát lạnh, độ ẩm cao và hệ sinh thái rừng nguyên sinh phong phú là nơi thảo quả (Amomum tsaoko) bén rễ và trở thành nguồn sống của đồng bào Mông, Dao, Hà Nhì suốt nhiều thế hệ. Nhiều hộ gia đình ở tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Tuyên Quang từng trông chờ gần như hoàn toàn vào loại cây này để trang trải cuộc sống, với bình quân mỗi hecta thảo quả cho thu nhập 40-50 triệu đồng/năm.
Nhưng sự phụ thuộc ấy nhanh chóng bộc lộ mặt trái. Khi diện tích trồng thảo quả tăng lên, bà con mở rộng theo phương thức quảng canh, thu hái non, chế biến thủ công. Lớp tro than và khói đen từ những lò sấy củi cũ kỹ không chỉ làm giảm chất lượng quả mà còn khiến rừng bị tàn lụi từng ngày.
Kết quả nghiên cứu của Viện Khoa học Công nghệ và Môi trường thuộc Liên minh Hợp tác xã Việt Nam chỉ ra, phần lớn quả thảo quả bị sấy sai kỹ thuật, dẫn đến chất lượng thấp, màu sậm, dễ mốc, giảm giá bán từ 10-15%. Nguy hại hơn, để có 1 tấn thảo quả khô, người dân phải đốt tới 5-7 m³ củi.
Anh Vàng A Páo, thành viên một hợp tác xã ở Lai Châu, ngậm ngùi: “Sấy củi như cũ thì phải thức đêm trông lò. Kiếm củi càng ngày càng xa, bán quả chẳng đủ công. Mưa lũ về, nhìn rừng thưa dần mà chúng tôi lo lắm”.
Nhận thấy tính cấp bách của việc nâng cao giá trị cây thảo quả gắn với bảo vệ rừng, Viện Khoa học Công nghệ và Môi trường đã chủ trì một đề tài trọng điểm: Ứng dụng khoa học kỹ thuật để hoàn thiện quy trình trồng - chăm sóc - chế biến - bảo quản thảo quả theo tiêu chuẩn xuất khẩu và chuyển giao công nghệ cho các hợp tác xã miền núi phía Bắc.
Đề tài được triển khai thí điểm tại hai hợp tác xã ở Lai Châu - tỉnh có diện tích rừng lớn và tỷ lệ hộ nghèo cao. Những chiếc lò sấy củi truyền thống được thay thế bằng lò sấy điện, sấy biomass hoặc hệ thống sấy năng lượng mặt trời tùy điều kiện địa phương. Nhờ kiểm soát được nhiệt độ và thời gian, mẻ thảo quả sau sấy giữ màu đỏ tươi, quả không cháy khét, không ám khói, độ khô đồng đều và bảo quản được lâu hơn.
Quan trọng nhất là lượng củi tiêu thụ giảm mạnh, tiết kiệm 5-7 m³ củi cho mỗi tấn quả khô. Sản phẩm thảo quả đạt chuẩn đã nâng giá bán lên 10-15%, giúp nhiều hộ dân có thu nhập ổn định hơn, không còn cảnh “mất mùa - mất giá” như trước.
Song song với chế biến, Viện Khoa học Công nghệ và Môi trường còn chuyển giao kỹ thuật trồng thảo quả dưới tán rừng theo hướng hữu cơ, đảm bảo mật độ, bón phân hữu cơ, giữ cây tái sinh, hạn chế tác động lên đất và hệ sinh thái. Điều này giúp rừng được bảo vệ, thảo quả sinh trưởng tốt mà không làm suy giảm đa dạng sinh học.
Bà con ở các bản vùng cao nhanh chóng hưởng ứng, bởi họ hiểu một điều rất đơn giản: giữ rừng là giữ cuộc sống của chính mình.
Khi thảo quả trở thành sinh kế bền vững và lá chắn biên cương
Những đổi thay từ mô hình hợp tác xã và khoa học, công nghệ không chỉ mang lại thêm tiền trong nhà, mà còn làm thay đổi tư duy của người trồng thảo quả. Họ nhìn rõ hơn con đường thoát nghèo dài hơi, không phá rừng, không làm theo tập quán cũ, mà sản xuất bài bản, có liên kết và có thị trường.
Hợp tác xã trở thành “đầu tàu” cung cấp giống, hướng dẫn quy trình, đầu tư công nghệ, kết nối doanh nghiệp thu mua. Bà con bớt lệ thuộc vào thương lái, tránh cảnh bị ép giá. Khi kinh tế ổn định, người vùng biên yên tâm gắn bó với bản làng, tích cực tham gia bảo vệ rừng, phối hợp với lực lượng biên phòng giữ gìn an ninh. Ở những nơi được thử nghiệm mô hình mới, tình trạng di cư tự do giảm rõ rệt, các nhóm tự quản bảo vệ rừng hoạt động hiệu quả hơn.

Nhiều hộ dân ở huyện vùng cao Mù Cang Chải có thu hàng trăm triệu đồng mỗi năm từ việc trồng cây thảo quả dưới tán rừng. Ảnh: Thanh Tiến
Thấy rõ hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường, Viện Khoa học Công nghệ và Môi trường và Liên minh Hợp tác xã Việt Nam đã tổ chức các hội thảo lan tỏa mô hình tới những tỉnh có điều kiện tương đồng như Lạng Sơn, Cao Bằng. Việc chuyển đổi từ quảng canh sang thâm canh bền vững đang được nhiều địa phương quan tâm, coi đó như bước đi tất yếu để vừa phát triển kinh tế lâm sản, vừa bảo vệ hệ sinh thái rừng.
Mỗi hợp tác xã được tiếp cận công nghệ mới sẽ là một hạt nhân lan tỏa phương thức sản xuất hiện đại, giúp đồng bào dân tộc tự tin hơn khi bước vào thị trường xuất khẩu. Những mái nhà vùng biên hôm nay sáng đèn nhờ thảo quả đỏ nhưng không phải nhờ cách làm cũ. Đó là kết tinh của tri thức khoa học, mô hình tổ chức hợp tác xã hiệu quả và sự đồng lòng của cộng đồng.
Khi người dân biết bảo vệ rừng, biết chăm cây đúng kỹ thuật và biết liên kết sản xuất, thảo quả không chỉ giúp thoát nghèo mà còn mở ra hành trình phát triển bền vững.
Thảo quả đỏ đang viết tiếp câu chuyện hồi sinh của những bản làng nơi phên dậu Tổ quốc - nơi từng bị nghèo đói đè nặng, nay đã bắt đầu nhìn thấy tương lai xanh hơn, vững chãi hơn, và đủ đầy hơn.