
Tin nóng:
Theo số liệu từ Cục Hải quan (Bộ Tài chính), trong 15 ngày đầu tháng 4/2026, xuất khẩu cao su của Việt Nam đạt 31.224 tấn, trị giá 62 triệu USD, giảm 33,4% về và giảm 34% về giá trị so với nửa đầu tháng 3/2026, nhưng tăng 17,8% về lượng và tăng 18,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.
Kế hoạch từ đầu năm đến ngày 15/4/2026, xuất khẩu cao su của Việt Nam đạt 427.060 tấn, trị giá 787,7 triệu USD, tăng 3,2% về lượng nhưng giảm 1,5% về giá trị so với cùng kỳ năm trước, giá xuất khẩu bình quân giảm 4,5%, đạt 1,844 USD/tấn. Kết quả này được đánh giá là tích cực trong bối cảnh nhu cầu từ thị trường chủ lực là Trung Quốc có dấu hiệu chậm lại, phần nào phản ánh kết quả hiệu quả từ nỗ lực đa dạng hóa thị trường của ngành cao su Việt Nam.

Quý I/2026, trôi hợp cao su tự nhiên và cao su tổng hợp tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Ảnh minh họa
Quý I/2026, nhạt hợp cao su tự nhiên và cao su tổng hợp tiếp tục là mặt hàng sản xuất chủ lực của Việt Nam, sử dụng 61,3% tổng khối lượng với 239,403 tấn, trị giá 448 triệu USD, tăng 0,4% về lượng nhưng giảm 4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Thị trường xuất khẩu chủ yếu của loại này là Trung Quốc với 424.794, sử dụng gần 95%; tiếp theo là Ấn Độ với 5% thị phần.
Mặt hàng thứ hai là mủ cao su latex đạt 54.498 tấn, giá trị 73,8 triệu USD, tăng nhẹ 0,3% về lượng nhưng giảm 8,2% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Với các loại chủng loại khác, xuất khẩu cao su SVR CV60 tăng 26,7% về lượng trong quý đầu năm 2026, RSS 3 tăng 29,2%, khi cao su tổng hợp ghi nhận mức tăng biến 1,287%. Ngược lại, xuất khẩu một số chủng loại ghi nhận giảm như SVR 3L giảm 9,8%, SVR 10 giảm 7,4% và SVR CV50 giảm 18,1%.
Về giá, giá xuất khẩu cao su nhìn chung thấp hơn đáng kể so với cùng kỳ năm. Cụ thể, giá trung bình xuất khẩu khử hợp cao su tự nhiên và cao su tổng hợp (HS: 400280) giảm 4,4%, xuống còn 1,871 USD/tấn; mủ cao su giảm 8,5%, còn 1,355 USD/tấn; SVR 3L giảm 4,7%, xuống mức 2,066 USD/tấn…
Theo số liệu từ Cơ quan Hải quan Trung Quốc, trong tháng 3/2026, Trung Quốc đã nhập 807.433 tấn cao su các loại (mã HS 4001, 4002, 4003 và 4005), so với tháng trước tăng 30,3% về lượng và tăng 34,6% về giá trị; so với tháng 3/2025 lượng nhập khẩu tăng 3,7%, nhưng giá trị lại giảm 2,9%.
Quý I/2026, nhập khẩu cao su của Trung Quốc đạt 2,25 triệu tấn, giá trị hơn 4 tỷ USD, tăng 0,3% về lượng, nhưng giảm 8,1% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Về cơ sở cung cấp nguồn, Thái Lan tiếp tục là thị trường cung cấp cao su lớn nhất cho Trung Quốc trong quý I/2026, đạt 796,573 tấn, trị giá 1,4 tỷ USD, tăng 2% về lượng, nhưng giảm 7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.
Phần cao su của Thái Lan trong tổng lượng nhập khẩu của Trung Quốc tăng từ 34,8% lên 35,4%. Việt Nam đứng thứ hai với khối lượng đạt 351.244 tấn, giá trị 627,5 triệu USD, giảm 0,9% về lượng và giảm 7,4% về giá trị so với cùng kỳ năm tiến.
Phần cao su của Việt Nam trong tổng khối lượng nhập khẩu của Trung Quốc giảm từ 15,8% xuống còn 15,6%. Ngoài ra, Trung Quốc nhập khẩu 214.673 tấn cao su từ thị trường Nga, tăng 1%; Bờ Biển Ngà đạt 177,870 tấn, tăng 25,9%. Ngược lại, lượng cao su nhập khẩu từ Malaysia giảm 29,7%, từ Myanmar giảm 3,4%; từ Hàn Quốc giảm 2,3%...
Về giá, giá bình quân cao su của Việt Nam nhập khẩu vào Trung Quốc trong quý I/2026 đạt 1,787 USD/tấn, giảm 6,6% so với cùng kỳ năm 2025. Mức giá này cũng cao hơn so với một số nguồn cung như Nga (1,362 USD/tấn), Bờ Biển Ngà (1,772 USD/tấn), nhưng thấp hơn Thái Lan (1,794 USD/tấn) và Malaysia (1,827) USD/tấn).