
Tin nóng:
Mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường
Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) được ký kết giữa 10 nước ASEAN và 5 nước đối tác của ASEAN gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và New Zealand vào ngày 15/11/2020, chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2022. Đến nay, Hiệp định đã có hiệu lực với tất cả các nước ký kết.

Hiểu đúng và thực hiện đúng các quy định về quy tắc xuất xứ là cơ sở quan trọng để doanh nghiệp khai thác tốt hơn những cơ hội mà RCEP mang lại.
Theo Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công Thương), mục tiêu của Hiệp định RCEP là từng bước tự do hóa và thuận lợi hóa thương mại hàng hóa giữa các bên thông qua việc xóa bỏ dần các hàng rào thuế quan và phi thuế quan. Đồng thời, Hiệp định hướng tới tự do hóa thương mại dịch vụ với phạm vi ngành đáng kể nhằm xóa bỏ hầu hết các hạn chế và các biện pháp phân biệt đối xử trong thương mại dịch vụ giữa các bên; tạo ra môi trường đầu tư tự do, thuận lợi và cạnh tranh trong khu vực để tăng cường cơ hội đầu tư, thúc đẩy, bảo vệ và tự do hóa đầu tư.
Ông Quyền Anh Ngọc - Trưởng phòng ASEAN, Vụ Chính sách thương mại đa biên cho hay, một trong những điểm nổi bật của RCEP là việc các bên thống nhất thiết lập bộ quy tắc xuất xứ chung cho toàn khu vực. Điều này giúp doanh nghiệp có thể sử dụng nguyên liệu, linh kiện từ nhiều nước thành viên mà vẫn đáp ứng điều kiện hưởng ưu đãi thuế quan.
Bên cạnh đó, Hiệp định còn góp phần củng cố vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc kinh tế khu vực, hỗ trợ phát triển bao trùm, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các thành viên, đồng thời tăng cường hợp tác kinh tế, kỹ thuật và tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia sâu hơn vào thương mại quốc tế.
Việc tham gia RCEP được đánh giá là mang lại nhiều cơ hội cho Việt Nam khi trở thành thành viên của khu vực thương mại tự do lớn nhất thế giới, mở ra khả năng tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng mới, đặc biệt thông qua bộ quy tắc xuất xứ hài hòa và các cơ chế thuận lợi hóa thương mại. Hiệp định cũng góp phần thiết lập thị trường xuất khẩu ổn định, lâu dài, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy quá trình tái cơ cấu nền kinh tế.
Để triển khai Hiệp định, Việt Nam đã hoàn tất nhiều công việc thực thi quan trọng. Trong đó có việc ban hành Thông tư số 05/2022/TT-BCT và Thông tư số 07/2022/TT-BCT ngày 23/3/2022 hướng dẫn thực hiện các biện pháp phòng vệ thương mại trong Hiệp định RCEP. Đồng thời, Chính phủ ban hành Quyết định số 01/QĐ-TTg ngày 4/1/2022 về Kế hoạch thực hiện Hiệp định RCEP; các bộ, ngành và địa phương cũng xây dựng kế hoạch triển khai nhằm đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến các cam kết của Hiệp định đến cộng đồng doanh nghiệp.
Quy tắc xuất xứ - 'chìa khóa' để hưởng ưu đãi
Năm 2025, tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam với các nước thành viên RCEP đạt gần 503 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt khoảng 171 tỷ USD, tăng hơn 30% so với thời điểm Hiệp định bắt đầu có hiệu lực vào năm 2022.
Những kết quả trên cho thấy dư địa mà RCEP mang lại là rất lớn. Tuy nhiên, nếu đặt trong tương quan với quy mô của hiệp định cũng như mức độ hội nhập ngày càng sâu rộng của Việt Nam, việc tận dụng, khai thác các ưu đãi vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Nguyên nhân được cho là doanh nghiệp Việt Nam vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình thực thi hiệp định. Trong đó, các rào cản kỹ thuật như quy tắc xuất xứ phức tạp, điều khoản về khác biệt thuế giữa các đối tác và xu hướng chuyển dịch từ các biện pháp bảo hộ thuế quan sang các biện pháp phi thuế quan đang tạo ra không ít khó khăn cho cả doanh nghiệp và cơ quan quản lý.
Bên cạnh đó, nhận thức và mức độ hiểu biết về RCEP của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn còn hạn chế. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến tỷ lệ tận dụng ưu đãi của Hiệp định chưa cao. Nhiều doanh nghiệp còn gặp khó khăn trong việc áp dụng quy tắc xuất xứ, thực hiện thủ tục chứng nhận xuất xứ hàng hóa, lựa chọn hiệp định thương mại tự do phù hợp cũng như đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về hồ sơ và chứng từ.
Vì thế, để tăng tốc tận dụng các ưu đãi từ Hiệp định RCEP, một trong những yêu cầu quan trọng đối với doanh nghiệp là phải nắm rõ quy tắc xuất xứ. Đây được xem là điều kiện tiên quyết để hàng hóa đáp ứng các tiêu chí hưởng ưu đãi thuế quan khi xuất khẩu hoặc nhập khẩu trong khu vực.
Theo cam kết về khác biệt thuế quan trong RCEP, mức thuế quan ưu đãi của mỗi nước được thể hiện trong các biểu cam kết thuế quan khác biệt của nước đó tại Phụ lục I của Văn kiện RCEP.
Cụ thể, đối với Nhật Bản và Thái Lan, mỗi nước chỉ có một biểu cam kết thuế quan áp dụng chung cho tất cả các nước thành viên, ngoại trừ những dòng thuế có ghi chú không áp dụng đối với một hoặc một số thành viên nhất định. Trong khi đó, Trung Quốc, Indonesia, Hàn Quốc và Việt Nam lại áp dụng nhiều biểu cam kết thuế quan riêng biệt. Theo đó, mỗi nước có một biểu dành cho các nước ASEAN và các biểu riêng cho từng thành viên hoặc nhóm nước thành viên còn lại.
Đối với Philippines, nước này có một biểu cam kết thuế quan chung bao gồm tất cả các dòng thuế. Với mỗi dòng thuế, nếu không có ghi chú áp dụng riêng cho quốc gia nào thì được hiểu là áp dụng chung cho tất cả các thành viên. Ngược lại, nếu có ghi chú áp dụng riêng cho một nước thành viên thì mức thuế quan ưu đãi đối với hàng hóa từ nước đó sẽ được tra cứu tại biểu thuế riêng của Philippines dành cho nước thành viên tương ứng. Các biểu riêng này chỉ bao gồm những dòng thuế được áp dụng ưu đãi riêng cho quốc gia liên quan.
Không chỉ có các biểu cam kết thuế quan dành riêng cho từng đối tác hoặc nhóm đối tác, trong Phụ lục I của Văn kiện RCEP, mỗi nước áp dụng cơ chế ưu đãi thuế quan khác biệt còn ban hành thêm một tiểu phụ lục quy định danh mục khoảng 100 dòng hàng hóa thuộc diện phải tuân thủ các quy tắc xuất xứ bổ sung bên cạnh các quy tắc xuất xứ chung. Tiểu phụ lục này cũng quy định lộ trình áp dụng các quy tắc xuất xứ bổ sung đối với từng nhóm hàng hóa.
Việc áp dụng khác biệt thuế quan kết hợp với các yêu cầu bổ sung về quy tắc xuất xứ được cho là có thể gây ra không ít thách thức cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện. Vì vậy, đối với doanh nghiệp nhập khẩu, cần đặc biệt lưu ý kiểm tra xem sản phẩm nhập khẩu có thuộc danh mục hàng hóa áp dụng khác biệt thuế trong Tiểu phụ lục của Phụ lục I do Việt Nam ban hành hay không. Điều này giúp doanh nghiệp kịp thời yêu cầu phía xuất khẩu cung cấp đầy đủ chứng từ để chứng minh xuất xứ liên quan.
Bên cạnh đó, đối với doanh nghiệp xuất khẩu, cần xác định ngay từ đầu liệu sản phẩm của mình có thuộc Tiểu phụ lục hàng hóa phải áp dụng quy tắc xuất xứ bổ sung trong Phụ lục I của nước nhập khẩu hay không. Việc này nhằm chuẩn bị nguồn nguyên liệu và chứng từ phù hợp để đảm bảo đáp ứng quy định của Hiệp định, qua đó tận dụng được mức thuế quan ưu đãi nhất khi xuất khẩu sang các nước thành viên RCEP.
Kể từ khi Hiệp định RCEP có hiệu lực ngày 1/1/2022 đến nay, cơ chế hợp tác trong khuôn khổ Hiệp định tiếp tục được duy trì và mở rộng thông qua nhiều hoạt động. Đồng thời, sức hút của Hiệp định cũng tiếp tục gia tăng khi đến nay đã có 5 nền kinh tế gồm Hồng Kông (Trung Quốc), Sri Lanka, Chile, Bangladesh và Uruguay lần lượt nộp đơn xin gia nhập RCEP. Điều này cho thấy Hiệp định không chỉ là khu vực thương mại tự do lớn nhất thế giới mà còn tiếp tục mở rộng phạm vi ảnh hưởng, tạo thêm dư địa hợp tác và kết nối chuỗi cung ứng trong khu vực cũng như trên phạm vi toàn cầu.
Trong bối cảnh đó, việc hiểu đúng và thực hiện đúng các quy định về quy tắc xuất xứ, cơ chế khác biệt thuế quan cùng các cam kết của Hiệp định sẽ là cơ sở quan trọng để doanh nghiệp tận dụng hiệu quả các ưu đãi, nâng cao năng lực cạnh tranh và khai thác tốt hơn những cơ hội mà RCEP mang lại. Đây cũng là yếu tố góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực và phát huy hiệu quả của một trong những hiệp định thương mại tự do (FTA) có quy mô lớn nhất thế giới mà Việt Nam đang tham gia.
Việt Nam đã hoàn thành việc chuyển đổi Biểu cam kết thuế quan từ phiên bản HS 2012 sang HS 2017 và tiếp tục chuyển sang HS 2022; ban hành Nghị định số 129/2022/NĐ-CP ngày 30/12/2022 để thực hiện các cam kết thuế quan theo Hiệp định RCEP. Cùng với đó là việc hoàn thành chuyển đổi Quy tắc xuất xứ cụ thể mặt hàng từ HS 2012 sang HS 2017 và từ HS 2017 sang HS 2022, đồng thời ban hành Thông tư số 05/2022/TT-BCT ngày 18/2/2022 và Thông tư số 32/2022/TT-BCT ngày 18/11/2022 quy định Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định RCEP.