
Tin nóng:
Nút thắt logistics
Theo số liệu vừa công bố của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), 5 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN đạt 18,5 tỷ USD, tăng 16,9% so với cùng kỳ năm 2025; nhập khẩu đạt 27,1 tỷ USD, tăng 21,6%. ASEAN tiếp tục là một trong những đối tác thương mại quan trọng hàng đầu của Việt Nam.
Tuy nhiên, xét trên quy mô của một khu vực với hơn 680 triệu dân, thương mại nội khối ASEAN vẫn được đánh giá chưa tương xứng với tiềm năng. Một trong những nguyên nhân quan trọng nằm ở hệ thống logistics chưa theo kịp tốc độ phát triển của hoạt động sản xuất và thương mại.
Trả lời phỏng vấn Báo Công Thương, ông Nguyễn Anh Sơn - Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho rằng, dù ASEAN là một trong những khu vực có tốc độ tăng trưởng thương mại năng động nhất thế giới, song hạ tầng logistics và khả năng kết nối chuỗi cung ứng vẫn tồn tại nhiều bất cập.

Logistics là điểm nghẽn trong đẩy mạnh thương mại giữa Việt Nam với các nước ASEAN. Ảnh minh họa
"Một trong những nguyên nhân quan trọng chính là chi phí logistics còn cao và mức độ kết nối logistics trong khu vực chưa đồng đều", ông Sơn cho hay.
Theo lãnh đạo Cục Xuất nhập khẩu, hạn chế đầu tiên là hệ thống hạ tầng logistics và kết nối vận tải đa phương thức chưa thực sự đồng bộ. Tại nhiều quốc gia ASEAN, trong đó có Việt Nam, đường bộ, cảng biển, đường sắt, cảng cạn và trung tâm logistics vẫn phát triển theo từng phần, thiếu tính liên thông.
Việt Nam hiện sở hữu những cụm cảng nước sâu có khả năng tiếp nhận các tàu container lớn nhất thế giới như Cái Mép - Thị Vải hay Lạch Huyện. Tuy nhiên, lợi thế này chưa được khai thác tối đa do hệ thống giao thông kết nối hậu phương cảng còn hạn chế.
Hiện nay, hơn 70-80% hàng hóa qua cảng biển vẫn được vận chuyển bằng đường bộ. Trong khi đó, kết nối đường sắt vào các cảng gần như chưa hình thành, còn vận tải thủy nội địa dù có tiềm năng nhưng chưa được khai thác hiệu quả. Điều này tạo ra những "nút thắt cổ chai", làm tăng ùn tắc, kéo dài thời gian lưu thông hàng hóa và đẩy chi phí vận tải nội địa lên cao.
Bên cạnh đó, trình độ phát triển logistics giữa các quốc gia ASEAN còn có sự chênh lệch đáng kể. Trong khi Singapore đã xây dựng được hệ sinh thái logistics hiện đại hàng đầu thế giới, nhiều quốc gia khác vẫn phụ thuộc lớn vào vận tải đường bộ, mức độ số hóa thấp và chi phí logistics cao.
Một vấn đề khác là logistics xuyên biên giới chưa thực sự thông suốt. Dù ASEAN đã triển khai nhiều sáng kiến tạo thuận lợi thương mại, quy trình hải quan, kiểm tra chuyên ngành, tiêu chuẩn kỹ thuật và chứng từ vận tải giữa các nước vẫn chưa được thống nhất hoàn toàn. Điều này làm gia tăng thời gian thông quan, phát sinh chi phí và ảnh hưởng tới hiệu quả của chuỗi cung ứng khu vực.
Đáng chú ý, trong khi các thị trường xuất khẩu ngày càng yêu cầu khắt khe về giảm phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc và minh bạch dữ liệu, năng lực logistics xanh và logistics số của nhiều doanh nghiệp ASEAN vẫn còn hạn chế. Việc thiếu các nền tảng chia sẻ dữ liệu dùng chung cũng khiến hoạt động điều phối chuỗi cung ứng chưa đạt hiệu quả tối ưu.
Xây dựng hệ sinh thái logistics số và xanh cho ASEAN
Theo các chuyên gia, để khai thác tốt hơn tiềm năng thương mại nội khối, ASEAN cần thúc đẩy mạnh mẽ quá trình kết nối hạ tầng chiến lược, hài hòa tiêu chuẩn kỹ thuật và đẩy nhanh chuyển đổi số trong lĩnh vực logistics.
Kinh nghiệm từ Singapore, Thái Lan hay Philippines cho thấy logistics chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được phát triển theo hướng đồng bộ và gắn với chiến lược phát triển kinh tế quốc gia.
Singapore nổi bật với mô hình logistics thông minh, trong đó các hoạt động quản lý cảng biển, kho bãi, vận tải và thủ tục hải quan được vận hành trên nền tảng dữ liệu thời gian thực. Thái Lan lại thành công trong việc phát triển logistics gắn với các hành lang kinh tế và vận tải đa phương thức, giúp giảm đáng kể chi phí vận chuyển nội địa. Trong khi đó, Philippines cho thấy hiệu quả của việc đầu tư hệ thống cảng trung chuyển và tăng cường kết nối giữa các phương thức vận tải.
Từ những kinh nghiệm này, Việt Nam được cho là cần tập trung phát triển hạ tầng logistics chiến lược, quy hoạch các trung tâm logistics theo vùng, kết nối chặt với khu công nghiệp, vùng nguyên liệu, cửa khẩu và cảng biển nhằm giảm chi phí vận chuyển.
Ông Nguyễn Anh Sơn nhấn mạnh: "Điều quan trọng nhất đối với Việt Nam không chỉ là học hỏi công nghệ hay mô hình riêng lẻ, mà là cách xây dựng hệ sinh thái logistics đồng bộ, có tính kết nối cao và gắn với chiến lược phát triển sản xuất - xuất khẩu quốc gia".
Bên cạnh hạ tầng, chuyển đổi số đang được xem là hướng đi mang tính đột phá. ASEAN hiện hướng tới xây dựng hệ sinh thái logistics vận hành trên nền tảng dữ liệu số, cho phép kết nối thông tin về hải quan, vận tải, kho bãi, cảng biển và truy xuất nguồn gốc hàng hóa.
Việc mở rộng và nâng cấp cơ chế ASEAN Single Window theo hướng tích hợp sâu hơn dữ liệu logistics được kỳ vọng sẽ giúp rút ngắn thời gian thông quan, giảm chi phí giấy tờ và nâng cao khả năng theo dõi dòng hàng theo thời gian thực.
Song song với đó là xu hướng phát triển logistics xanh. Khi các thị trường lớn đều đặt ra yêu cầu cao về tiêu chuẩn ESG và phát thải carbon, việc xây dựng các tiêu chuẩn chung về vận tải xanh, kho bãi xanh và đo lường phát thải sẽ trở thành điều kiện quan trọng để doanh nghiệp ASEAN duy trì năng lực cạnh tranh.
Tận dụng tốt cơ hội hợp tác logistics sẽ giúp Việt Nam mở rộng thương mại với ASEAN, đồng thời nâng cao vị thế trong chuỗi cung ứng khu vực.