
Tin nóng:
Xuất khẩu chè tăng về lượng và trị giá
Theo số liệu thống kê từ Cục Hải quan, xuất khẩu chè của Việt Nam trong tháng 5/2026 đạt 8,82 nghìn tấn, trị giá 16,1 triệu USD, tăng 0,7% về lượng và tăng 2,4% về trị giá so với tháng 4/2026, nhưng giảm 18,1% về lượng và giảm 14,1% về trị giá so với tháng 5/2025. Giá bình quân chè xuất khẩu trong tháng 5/2026 đạt 1.830 USD/ tấn, tăng 4,9% so với tháng 5/2025.
Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu chè của Việt Nam đạt 43,2 nghìn tấn, trị giá 74,7 triệu USD, giảm 7,1% về lượng và giảm 2,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Giá bình quân chè xuất khẩu trong 5 tháng đầu năm 2026 đạt 1.730 USD/ tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm 2025.

Giá bình quân chè xuất khẩu trong 5 tháng đầu năm 2026 đạt 1.730 USD/ tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm 2025. Ảnh minh hoạ
Giá bình quân chè xuất khẩu tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2025, cho thấy những tín hiệu dịch chuyển tích cực, song toàn ngành vẫn đang chịu áp lực cạnh tranh gay gắt từ các cường quốc sản xuất lớn như Ấn Độ, Kenya và Sri Lanka.
5 tháng đầu năm 2026, cơ cấu thị trường xuất khẩu chè của Việt Nam tiếp tục có sự chuyển dịch mạnh. Đài Loan (Trung Quốc) là thị trường xuất khẩu chè lớn nhất của Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2026, đạt 4,8 nghìn tấn, trị giá 9,2 triệu USD, tăng 4,3% về lượng và tăng 17% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Giá bình quân xuất khẩu chè sang thị trường Đài Loan (Trung Quốc) đạt 1.912 USD/tấn, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm 2025. Trái lại, xuất khẩu chè tới thị trường Trung Quốc và Pakistan tiếp tục xu hướng giảm. Xuất khẩu chè sang thị trường Trung Quốc đạt 4,4 nghìn tấn, trị giá 6,8 triệu USD, giảm 9,8% 26 về lượng và giảm 14,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Xuất khẩu chè sang thị trường Pakistan giảm mạnh hơn, đạt 4,1 nghìn tấn, trị giá 7,3 triệu USD, giảm 70,6% về lượng và giảm 72% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Trong khi đó, xuất khẩu chè sang một số thị trường truyền thống như Nga, Hoa Kỳ lại tăng. Xuất khẩu chè sang thị trường Nga đạt 2,8 nghìn tấn, trị giá 4,8 triệu USD, tăng 13,2% về lượng và tăng 2,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025; xuất khẩu chè sang thị trường Hoa Kỳ đạt 2,8 nghìn tấn, trị giá 4,7 triệu USD, tăng 3,9% về lượng và tăng 14,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Xuất khẩu chè sang Ấn Độ và Philippines cũng tăng trưởng tích cực.
Trong đó, xuất khẩu sang Ấn Độ tăng 12% về lượng và tăng 18,1% về trị giá; xuất khẩu sang Philippines tăng 84,2% về lượng và tăng 93,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Dù cơ cấu xuất khẩu chè có sự dịch chuyển tích cực sang thị trường Đài Loan (Trung Quốc), Nga, Hoa Kỳ, Philippines, nhưng ngành chè Việt Nam vẫn tồn tại hạn chế lớn khi giá bình quân xuất khẩu thấp hơn mặt bằng thế giới, chỉ đạt 1.730 USD/tấn, đồng thời tỷ trọng chè thô xuất khẩu sang Đông Nam Á (Malaysia, Indonesia) còn lớn.
Việt Nam là thị trường cung cấp chè lớn nhất cho Đài Loan (Trung Quốc)
Dẫn số liệu của Cơ quan Tài chính Đài Loan (Trung Quốc), nhập khẩu chè của thị trường Đài Loan (Trung Quốc) trong 4 tháng đầu năm 2026 đạt 7,2 nghìn tấn, trị giá 25,2 triệu USD, giảm 6,3% về lượng nhưng tăng 9,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Đáng chú ý, giá bình quân chè nhập khẩu vào thị trường Đài Loan (Trung Quốc) tăng khá mạnh, tăng 16,4% so với cùng kỳ năm 2025, đạt 3.505 USD/tấn, cho thấy xu hướng tiêu dùng tại Đài Loan (Trung Quốc) đang dịch chuyển rõ rệt sang các dòng chè chất lượng cao và có giá trị gia tăng lớn.
Trong cơ cấu nguồn cung, các đối tác chính cung cấp chè cho thị trường Đài Loan (Trung Quốc) bao gồm Việt Nam, Sri Lanka, Ấn Độ, Nhật Bản, Indonesia…Trong đó, Việt Nam là thị trường cung cấp chè lớn nhất cho thị trường Đài Loan (Trung Quốc) trong 4 tháng năm 2026, đạt 3,56 nghìn tấn, trị giá 6,5 triệu USD, giảm 3,7% về lượng nhưng tăng 7,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025, chiếm 46,9% về lượng và chiếm 25,7% về trị giá trong tổng nhập khẩu
Tiếp theo là thị trường Sri Lanka đạt 1,2 nghìn tấn, trị giá 5,7 triệu USD, giảm 13,1% về lượng và giảm 8,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Trong khi đó, Ấn Độ đứng vị trí thứ ba, đạt 825 tấn, trị giá 1,8 triệu USD, tăng 8,6% về lượng và tăng 3,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Giá bình quân chè nhập khẩu từ Việt Nam đạt 1.817 USD/tấn, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2025, vẫn thấp hơn mức bình quân chung, nhưng sự tăng trưởng về giá chứng tỏ nguồn cung Việt Nam không chỉ giữ vững vai trò đối tác cung cấp chủ lực về sản lượng, mà còn đang từng bước nâng cao giá trị sản phẩm, dịch chuyển dần từ phân khúc giá rẻ sang các dòng chè có chất lượng và tiêu chuẩn cao hơn.
Để tăng trưởng bền vững, doanh nghiệp chè Việt Nam cần tập trung đầu tư mạnh vào khâu chế biến đi kèm kiểm soát nghiêm ngặt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm (SPS) nhằm thâm nhập sâu vào các thị trường khó tính yêu cầu cao như Hoa Kỳ, EU, đồng thời chủ động khai thác tối đa lợi thế cạnh tranh tại các thị trường ngách giàu tiềm năng ở Trung Đông và Đông Nam Á.