Tin nóng:

“Những tấm áo dài của mẹ” là nhan đề bài viết của tác giả, nhà báo Vũ Thị Tuyết Nhung, xin được gửi đến quý vị cùng theo dõi và lắng nghe.
Bài viết:
Một khoảng trời ký ức xa xưa như chợt hiện về trong ánh mắt mờ đục của mẹ. Bàn tay người run rấy mân mê hạt khuy áo ngọc trai trên chiếc áo dài lụa Bombay màu be hồng đã lỗ chỗ đôi ba nốt bã chè. Tôi biết, đó là tấm áo dài duy nhất của mẹ còn lại từ những năm thuộc thập niên 50 của thế kỷ trước. Thời ấy, cha tôi đang còn là một ông chủ hãng xe vận tải nhỏ ở Hà Nội, cảnh nhà cũng khá sung túc. Chiếc áo này mẹ đã mặc khi bế tôi đứng chụp ảnh cạnh chiếc xe nhà, bên hè phố Cửa Đông. Chiếc ảnh ấy nay hãy còn lưu trong tập ảnh gia đình.
![]() |
| Áo dài của người phụ nữ xưa |
Mùa xuân năm Canh Thìn, năm 2000, Tết xong, mẹ tôi ngã bệnh nặng, chạy chữa thuốc thang suốt hơn nửa năm trời không thuyên giảm. Mấy ngày cuối cùng, các mợ, các thím trong họ qua thăm, lúc ra về, đều gọi chị em tôi ra bảo nhỏ:
- Sắp sửa cho mẹ đi, kẻo khi việc xảy ra lại vội vàng.
Dù thương mẹ đứt ruột, nhưng chị em tôi không thể không nghe lời các thím, các mợ.
Ngăn tủ quần áo của mẹ được giở ra. Nhà chật, đương nhiên mẹ trông thấy hết, dù bà đã nằm liệt trên chiếc giường nơi góc phòng. Mẹ bình thản bảo tôi, lúc ấy đang ngồi xoa lưng cho bà:
- Các chị đang sắp sửa cho mẹ đi đấy!
Tôi suýt ứa nước mắt, song vội gạt đi:
- Mẹ cứ nghĩ quẩn, mấy hôm rồi mưa ngâu, sợ quần áo ẩm, chúng con lấy ra đem phơi thôi mà.
Mẹ tôi lắc đầu nhẹ, gọi chị cả tôi đem lại cho bà một bọc gói lớn xếp trên ngăn tủ cao nhất. Bọc khăn vuông sợi chéo "mậu dịch", nền xanh hòa bình kẻ viền màu nâu, dấu vết của thời bao cấp cách đây đã gần 40 năm. Ấy là bọc áo dài của mẹ, áo dài cũ. Còn những chiếc áo đang dùng, vẫn treo sắp hàng trên mắc, trong ngăn tủ gương.
Tôi run run mở mãi mới được chiếc nút khăn buộc chéo dễ đến hai ba múi chặt. Một khoảng trời ký ức xa xưa như chợt hiện về trong ánh mắt mờ đục của mẹ. Bàn tay người run rẩy mân mê hạt khuy áo ngọc trai trên chiếc áo dài lụa Bombay màu be hồng đã lỗ chỗ đôi ba nốt bã chè. Tôi biết, đó là tấm áo dài duy nhất của mẹ còn lại từ những năm thuộc thập niên 50 của thế kỷ trước. Thời ấy, cha tôi đang còn là một ông chủ hãng xe vận tải nhỏ ở Hà Nội, cảnh nhà cũng khá sung túc. Chiếc áo này mẹ đã mặc khi bế tôi đứng chụp ảnh cạnh chiếc xe nhà, bên hè phố Cửa Đông. Chiếc ảnh ấy nay hãy còn lưu trong tập ảnh gia đình.
Còn hàng chục chiếc áo của mẹ may cùng dạo ấy, thì vào thời chiến tranh chống Mỹ, chị em tôi đã lôi hết ra để cắt may thành những chiếc áo mặc hàng ngày. Tội nghiệp, khi còn là áo dài thì trông chúng duyên dáng vậy, mà đến khi sửa thành áo sơ mi, trông chúng rõ ra là đồ thừa thẹo, chắp vá. Mẹ cứ nhìn chị em chúng tôi diện áo mà chẳng khen chê câu nào. Thi thoảng người lén thở dài, chắc là không muốn cho chị em tôi biết rằng người nhớ tiếc lắm vẻ đẹp của một thời cùng bao kỷ niệm về những dịp hội hè, cưới xin, tết nhất thanh bình, êm ấm. Dạo ấy vải vóc khó khăn lắm, mà ai dám chắc sẽ có lúc nào lại được mặc áo dài đi chơi trên phố Hà Nội?
Một tập áo khác, bàn tay mẹ yếu ớt cố cầm soi lên luồng ánh sáng nơi cửa sổ. Đây là bộ áo kép của bà ngoại. Bà ngoại để lại cho mẹ tôi khi người khuất núi. Áo lụa tơ tằm Hà Đông. Chiếc áo bên trong là áo đoạn màu vàng chanh, chiếc áo bên ngoài là áo nhiễu màu huyết dụ. Thuở sinh thời, bà ngoại tôi thường kể, phụ nữ Hà Nội thời ấy, khoảng những năm đầu và giữa thế kỷ XX, đã ít người mặc áo mớ ba tứ thân theo lối cổ, nhưng thường mặc áo kép đôi năm thân như thế. Không mấy ai chỉ mặc áo đơn. Ấy là chưa kể lượt áo cánh ngắn mặc lót bên trong. Như thế mới là kín đáo, lịch sự.
Bên dưới bọc là một tấm áo dài mùa đông, một mặt bằng lĩnh đen, thứ lĩnh Bưởi bóng nhẵn, một mặt là thứ vải láng đen hay chéo đen, tôi cũng không phân biệt rõ lắm. áo trần lối quân cờ. Chiếc áo chỉ mới hơi sờn một chút nơi khuỷu tay. Mẹ thầm thào nhắc:
- Mấy hôm rồi mẹ hay nằm mơ thấy bà ngoại các con...
Tôi bỗng sực nhớ lại hình ảnh của bà ngoại tôi những ngày mùa đông rét mướt cách đây đã trên ba bốn chục năm. Bà thường ngồi uống trà trên chiếc trường kỷ cũ kỹ, mặc đúng tấm áo dài này.
Trên đầu người đội tới hai chiếc khăn. Chiếc khăn láng đen bên trong buộc lối mỏ quạ, phủ ngang trán. Chiếc khăn len bên ngoài màu vàng mơ chỉ trùm ngang đỉnh đầu và thắt múi dưới cằm. Hai tay người thu lu ôm chiếc bình ủ nước nóng quấn mấy lần khăn vải hoa.
Rồi mẹ tôi bảo chị cả tôi mở chiếc tủ gương, ánh mắt người chầm chậm lướt qua cả một dãy áo dài mắc thành hàng trên thanh suốt ngang. Tiếng nói của mẹ nghe đã hơi thều thào song cũng còn khá rành rẽ:
- Cái áo gấm thất thể, mẹ để cho mợ các con (tức là em dâu của mẹ tôi), mợ vẫn thích một chiếc như thế mà chưa có dịp may, mợ vốn nhiệm nhặt quá. Cái áo sa tanh nâu thêu hoa cúc vàng kia, các con đem về cho thím Hai ở dưới quê. Thím cũng già rồi, chắc hay đi lễ... Còn những chiếc áo khác, các dì, các thím, ai thích chiếc nào thì lấy chiếc ấy...
Đôi mắt mẹ như bỗng mờ đi xa xăm... Chắc có lẽ người đang nhớ về cái thời tản cư năm 46, chị em dâu gái đùm bọc cháo cơm, khoai sắn, nuôi cháu, nuôi con trong những chiếc ổ rơm vàng ấm áp...
Dừng một lát, người nhắc:
- Khi mẹ đi thì chỉ cần mặc cho mẹ chiếc áo nhung hoa là đi...
Tấm áo dài nhung hoa, mẹ tôi có dễ may vào thời những năm sau sau khi đất nước đã thống nhất. Mảnh nhung do chị cả tôi đi công tác châu Âu mua tặng. Còn tấm gấm thất thể do tôi sang du lịch Trung Quốc lựa về. Mảnh sa tanh nâu, cô em út được thưởng mang biếu mẹ. Còn những tấm áo khác, hàng chục chiếc không ít, do dích tay mẹ chọn mua vải ở chợ Đồng Xuân hay trên phố Hàng Gai, Hàng Quạt, vào những năm thành phố đã bước vào thời kỳ mở cửa và hội nhập. Những là lụa vân, lụa chí cẩm, nhung the, màu tiết dê, màu vỏ đổ, màu thép sáng, màu mơ già, màu mắm tôm... và hầu hết những tấm áo dài của mẹ tôi đều được may cắt ở cửa hiệu ông Mỹ Hào, người làng Trạch Xá, trên phố Cầu Gỗ. Sau này,không hiểu tại sao, chị em chúng tôi và cả các cháu gái, cũng vẫn đến may áo dài ở chính cửa hiệu ấy, mặc dù Hà Nội bây giờ cũng có bao nhà may danh tiếng khác. Nay ông Mỹ Hào cũng đã bước qua tuổi thất thập rồi, đường kim mối chỉ không biết có còn được như xưa?
Những năm cuối đời, mẹ tôi đã có được đôi chút thư nhàn, thanh thản thường diện áo dài đi hội lễ, cưới xin... và chụp ảnh...
Nhưng mà mẹ tôi bỗng thở dài, nghe thoáng chút ngậm ngùi:
- Mẹ chỉ tiếc, bộ áo cưới của mẹ mấy năm tản cư trong kháng chiến đã không giữ được. Ngày ấy...
Mẹ tôi dường như đã mệt, trở mình quay vào bên trong và chìm dần vào giấc ngủ. Ấy là một ngày trước khi mẹ tôi qua đời chừng ba bốn hôm...
Tôi bất chợt nhớ đến câu thơ của nhà thơ Nguyễn Bính
Này áo đồng lầm, quần lĩnh tía
Này gương, này lược này hoa tai...
Trước mắt tôi lung linh hình ảnh một đám rước dâu lộng lẫy thướt tha, từ nhà ngoại, ở làng Ngũ Xã bên hồ Trúc Bạch, ra Phố cổ Hàng Đồng, vào một mùa xuân cách đây đã gần sáu mươi năm...
Nội dung bài viết đến đây xin được tạm dừng, cảm ơn quý vị đã dành thời gian lắng nghe. Thân ái chào tạm biệt quý vị và các bạn!

“Chiếc bình tích đồng thau” là nhan đề bài viết của tác giả, nhà báo Vũ Thị Tuyết Nhung, kính mời quý vị cùng lắng nghe.
Khi đỡ chiếc bình trên tay, tôi thấy nó dường như bé hẳn đi so với trí nhớ xưa cũ của mình. Duy chỉ cái hình dáng đặc biệt hệt như một chiếc bánh dày đại trong đám hội làng, là tôi thấy y nguyên. Khắp mình nó đầy vết lồi lõm, sứt võ, dù đã được mợ tôi nhờ người hàn lại bằng những mối hàn thiếc.
Vậy mà trong vệt sáng lung linh, mờ ảo nơi thân bình, tôi như thấy hiện lên hình ảnh của những người đàn bà thân yêu nhất trong cuộc đời tôi nay đều đã khuất xa. Bà ngoại, mẹ tôi, dì tôi, mợ tôi, những người đàn bà, con gái, con dâu của làng nghề đúc đồng cổ xưa, vất vả, tảo tần, thương cháu, yêu con nhất mực.
Nghe tin mơ Liên ra đi đột ngột, Tôi chạy với về 38 phố Hàng Đồng. Lúc ấy mợ đã được đưa sang nhà tang lễ Phùng Hưng. Em Tuyết, cô em con cô con cậu của tôi sụt sùi kể chuyện:
Cho đến lúc mợ tôi đột ngột mắc cơn cảm nặng và lâm vào tình trạng hôn mê, dường như đã vô thức, bà mới chịu rời chiếc bình ủ bằng đồng thau đựng đầy nước nóng, bọc trong mấy lần khăn bông to dày.
Không phải là bởi chiếc bình thật là cao giá. Mà bởi chính là nó thật sự cần thiết cho bà. Mấy hôm ấy, trời Hà Nội đang kỳ rét đậm. Hiếm có đợt rét nào kéo dài như đợt rét đầu tháng giêng năm Tân Tỵ 2001. Đấy chính là chiếc bình ủ bằng nước nóng, thay cho lò sưởi giữ ấm thân thể.
Chiếc bình ấy tôi biết, nó có từ thuở sinh thời bà ngoại tôi, tức là bà mẹ chồng của mợ.
![]() |
| Bình tích đồng thau |
Ngày xưa khi còn nhỏ, mỗi kỳ rét đậm, nhất là trong tiết đại hàn, tôi rất thích được vào ngủ cùng bà ngoại, vì bà thường để chiếc bình ủ ấy trong chăn, ấm ơi là ấm! Có đêm, thấy bà sẽ sàng trở mình, tôi mơ màng tỉnh giấc, thì ra là bà đang gượng nhẹ trở dậy để gỡ bớt một lượt khăn bông quấn bên ngoài chiếc bình, chắc là do nước trong bình đã giảm hơi nóng. Rồi dúi nó lại bên mình tôi, ý là để cho cháu ngoại được ngủ ngon thêm một lát trước giờ đi học.
Khi tôi lớn lên, dì Hai tôi sinh thêm em bé. Mỗi lần trời trở nồm, mưa phùn ẩm ướt, quần áo phơi cách nào cũng không khô, bà tôi liền lấy chiếc bình đồng ấy, đồ đầy nước sôi già, rồi quấn cả đám tã lót ướt của em tôi vòng quanh. Chỉ chừng nửa buổi, gỡ ra là chúng khô cong, thơm phức. Ngày ấy, những năm sáu mươi bẩy mươi của thế kỷ trước, lấy đâu ra lò sưởi điện hay máy sấy như bây giờ.
Đến mùa hạ, khi hoa sen đầu mùa chớm nở, mẹ tôi quen lệ ướp vài ba cân trà mạn để dành tiếp khách. Chiếc bình đồng lại được trưng dụng để sấy trà. Bà cho trà đã rắc gạo sen vào những túi giấy bóng mờ, gọi là giấy nến, dán kín lại. Rồi xếp những túi giấy vòng trong lòng chiếc thúng nan. Đoạn, bà đặt chiếc bình tích đã đổ đầy nước sôi già vào giữa thúng. Ủ thêm mấy tấm khăn bông vải to đùng. Qua một ngày đêm sẽ dỡ trà đem sàng bỏ lớp gạo hoa cũ, thay lớp gạo hoa mới. Cứ dăm lần ướp và ủ như thế mới hoàn thiện một mẻ trà hương. Mẹ tôi bảo rằng, trà sấy cách thuỷ kiểu ấy tuy hơi lâu nhưng bền hương, không dễ khét như trà sấy vội, kiểu sấy điện hay sấy than.
Tôi lớn lên, vào đại học, rồi đi lấy chồng, ra ở riêng. Tôi nhớ, ngày tôi sinh con đầu lòng, cũng vào một ngày tháng mười chớm đông năm đầu thập niên 80 của thế kỷ trước. Đích thân bà ngoại tôi còn đi xích lô xuống thăm. Tay bà ôm khư khư chiếc bình đồng thau, để cho tôi dùng ủ tã cho chắt ngoại, khiến tôi cảm động vô cùng. Bởi khi ấy, nhà tôi đang gặp hoạn nạn, vợ chồng xa cách, tôi sinh con, nuôi con một mình, hay tủi thân lắm. Sau đó, theo thời gian, cuộc sống khấm khá lên, vợ chồng tôi cũng sắm đủ, nào là máy sấy, lò sưởi điện, máy điều hòa hai chiều.
Tôi dần dần quên bằng chiếc bình đồng cổ. Hình ảnh cuối cùng về nó mà bấy lâu nay, thi thoảng tôi còn nhớ tới, là hình ảnh của bà ngoại tôi, mặc chiếc áo bông dài trần quân cờ, đầu trùm khăn mỏ quạ, tay thu lu chiếc bình ủ, trong một chiều đầu xuân giá lạnh trước khi bà tôi qua đời ít lâu. Ngày ấy thế mà cách đây đã gần bốn mươi năm.
Khi bà tôi khuất núi, chiếc bình được truyền cho cô con dâu, tức là người mợ hiền của tôi. Giữa đất Hà Nội những năm cuối thế kỷ hai mươi, đầu thế kỷ XXI, mà mợ tôi vẫn dùng chiếc bình ủ ấy, bởi vì nhà mợ vốn không dư giả gì. Mà cũng bởi vì nhà mợ đun bếp than suốt ngày, nước non rất tiện. Rồi còn bởi một lý do vô cùng thiêng liêng nữa. Đó là gia đình bên ngoại tôi vốn quê gốc ở làng đúc đồng Bắc Ninh, làng Dí Hạ, tên chữ là làng Đào Viên thuộc xã Nguyệt Đức, huyện Thuận Thành. Sau họ tộc theo lên sinh sống và hành nghề ở làng Ngũ Xã bên hồ Trúc Bạch, rồi chuyển về ở phố Hàng Đồng mở cửa hàng buôn bán. Có một thời nhà nước quản lý nghiêm ngặt. Nghề đúc đồng và buôn bán đồ đồng bị cấm, gia đình bên ngoại tôi đành phải bỏ nghề trong khoảng vài ba chục năm, mới khôi phục lại cửa hàng, cũng chả dám bày biện to tát gì.
Vào thời buổi khó khăn đó, những món đồ đồng như xanh nồi, đỉnh đèn, lư hương thật là những món đồ cổ quý giá. Chiếc bình đồng cũng vậy. Cậu mợ tôi thi thoảng mua được một mẻ thiếc vụn, đem đúc thành một thoi trên bếp than quả bàng ở sân sau, để bán cho những nhà hàn nồi hàn xoong bên phố Hàng Thiếc, và để hàn chính chiếc bình đồng này những lúc nó không may bị đánh rơi sứt vỡ. Mỗi lúc làm vụng làm trộm một mẻ hàng như thế, cứ phải cài then đóng chặt cửa nhà. Công an mà biết được thì hết đường sống.
Mợ tôi là một người đàn bà phố cổ, nhà ngoại của mợ ngay bên phố Thuốc Bắc. Tên cúng cơm của mợ là Chung. Mãi sau tôi mới biết. Chứ toàn gọi mợ theo tên cậu Liên tôi. Mợ rất đảm đang, chịu khó và nhẫn nhịn. Mợ nhất mực phục tùng và e sợ cậu tôi, một giai phố cổ chính hiệu, con trai duy nhất của ông ký tòa cũ, mà sang thời chế độ mới, thành anh công nhân. Anh công nhân nhưng vẫn không bỏ nếp sống "cậu ấm" cũ. Mợ tự hiểu mà phục vụ. Kể cả suốt một thời chiến tranh bao cấp khó khăn ngặt nghèo, mợ vẫn thổi riêng cho cậu tôi một cái niêu mốt đồng điếu cơm gạo quê.
Còn cả nhà ăn cơm gạo mậu dịch. Cậu tôi dù thời buổi nào cũng giữ thói quen đọc sách và sưu tầm sách. Cậu cần đến tiền mua sách và tiếp đãi trà rượu các bạn bè yêu văn chương, là mợ tôi phải đưa, bất biết nhà thiếu đủ ra sao. Không một câu than thân trách phận.
Nghĩ lại mà thương mợ quá.
Sau này, có lần vào thăm mợ, lúc trà nước rôm rả, tôi vui miệng nói đùa: "Khi nào mợ hai năm mươi, mợ nhớ cho con chiếc bình đồng, còn con không xin gì cả". Thế mà mợ tôi cười, đưa tay vuốt đôi khóe miệng tươi màu nước cốt trầu, hàm răng đen hạt na lấp lánh. Mợ bằng lòng ngay. Bởi vì tôi là một đứa cháu gái rất được mợ yêu quý. Dù hoàn cảnh riêng còn nhiều vất vả, song tôi bao giờ cũng vẫn nhớ qua lại đỡ đần, thăm hỏi mợ và các em tôi, nhất là khi cậu tôi đã sớm đi xa, để lại mợ với gánh nặng nuôi bốn đứa em tôi đang tuổi ăn tuổi lớn, học hành còn dang dở.
Ngờ đâu, mợ tôi đột ngột qua đời, không kịp dặn dò cháu con lấy một lời. Hôm cúng ba ngày mợ, em Tuyết tôi dỡ chiếc bình từ trong bọc khăn bông tưởng còn ấm hơi mợ, dốc nước trong bình cho hết để đưa cho tôi. Nước mắt tôi ròng ròng chảy theo dòng nước trong vắt róc rách tuôn xuống tự cổ bình. Khi đỡ chiếc bình trên tay, tôi thấy nó dường như bé hẳn đi so với trí nhớ xưa cũ của mình. Duy chỉ cái hình dáng đặc biệt hệt như một chiếc bánh dày đại trong đám hội làng, là tôi thấy y nguyên. Khắp mình nó đầy vết lồi lõm, sứt vỡ, dù đã được mợ tôi nhờ người hàn lại bằng những mối hàn thiếc.
Vậy mà trong vệt sáng lung linh, mờ ảo nơi thân bình, tôi như thấy hiện lên hình ảnh của những người đàn bà thân yêu nhất trong cuộc đời tôi nay đều đã khuất xa. Bà ngoại, mẹ tôi, dì tôi, mợ tôi, những người đàn bà, con gái, con dâu của làng nghề đúc đồng cổ xưa, vất vả, tảo tần, thương cháu, yêu con nhất mực.
Tôi đem chiếc bình về nhà, ủ mẻ chua và xin nắm cát đen đánh sạch bóng, lấy rượu thơm tráng lại, đem để cạnh chiếc tráp trâu khảm trai, bịt viền đồng là kỷ vật của mẹ tôi để lại, và những món đồ đồng khác mà tôi đi du lịch các nước mang về, cũng như những tác phẩm đồ đồng mỹ nghệ của các nghệ nhân Hà Nội mà tôi sưu tầm được trong những năm đi làm báo hình tại Đài Hà Nội.
Các con tôi về nhà thấy chiếc bình là lạ, méo mó và xấu xí để trong phòng khách, chúng ngạc nhiên lắm. Bởi vậy tôi đã kể lại chuyện cho chúng nghe. Và đó chính chính là câu chuyện này đây.
Các bạn tôi ơi!
Nội dung bài viết “Chiếc bình tích đồng thau” đến đây xin được tạm dừng, cảm ơn quý vị đã dành thời gian lắng nghe. Thân ái chào tạm biệt quý vị và các bạn!

“PHỤC HỒI THÚ CHƠI HOA THỦY TIÊN” - là nhan đề bài Podcast hôm nay, bài viết của tác giả - Nhà báo Vũ Thị Tuyết Nhung, nguyên Trưởng ban Văn hóa - Xã hội, Đài PT - TH Hà Nội. Kính mời quý vị cùng lắng nghe.
Bài viết:
Khi thuỷ tiên nở hoa, mỗi cụm hoa mang một dáng vẻ khác nhau theo lối đặt tên của các cụ xưa. Dáng phượng múa, dáng rồng bay, dáng hạc chấu, dáng tiên sa... Mỗi cụm hoa thực sự là một tác phẩm nghệ thuật mang dấu ấn độc đáo của bàn tay người yêu hoa, và là kết quả của nghệ thuật gọt tỉa thủy tiên khởi từ trước đó hàng tháng trời. Chính bởi vậy, người xưa mới ham thích thú chơi thuỷ tiên, thú chơi giàu sáng tạo và giàu tính thẩm mỹ, nghệ thuật.
Thấm thoắt thế là đã gần nửa thế kỷ đã trôi qua, hôm nay cụ giáo Lê Đăng Nghị ở phường Thanh Lương mới được cầm lại trên tay con dao nhỏ thân thiết ngày xưa. Con dao có hình dáng đặc biệt kỳ lạ. Một đầu như chiếc lưỡi rìu nhỏ sắc lẹm, một đầu như lưỡi thuổng tí xíu hình lòng máng. Đó chính là con dao gọt và tỉa thủy tiên chuyên nghệ. Dường như thoáng một nỗi bồi hồi, mong nhớ đang dâng ứ trong đôi khoé mắt và đôi bàn tay của ông lão tuổi ngoại tám mươi khi bỗng dưng chạm vào từng dáng nét của một vẻ đẹp xưa:
Chơi hoa thủy tiên là một thú chơi xuân lâu đời của người Hà Nội. Nhưng trải qua mấy chục năm chiến tranh giặc giã rồi bao cấp khó khăn, thú chơi thủy tiên mai một dần. Rồi sau đó lại xảy chiến tranh biên giới phía Bắc, nguồn củ thủy tiên từ Trung Quốc về Việt Nam không còn. Thế nên coi như đứt đoạn mấy mươi năm trời nay mới bắt đầu nối lại.
![]() |
| Hoa thủy tiên trắng |
Không phải bỗng dưng mà bài viết về "Thú chơi hoa thủy tiên" của nhà báo lão làng Nguyễn Hà thuở sinh thời chỉ gồm có mấy trăm chữ đăng trên số tết của một tờ tuần báo lại được trả nhuận bút khá cao. Mọi người nói đùa, mỗi chữ đáng giá bạc ngàn. Còn nhà báo Nguyễn Hà thì rằng, đó là nhờ ở lộc của ông cụ thân sinh một cụ đồ nho Hà Thành từng một thời đam mê thú chơi tao nhã ấy. Nhà báo Nguyễn Hà kể rằng, mỗi năm vào dịp cuối tháng một, tức tháng mười một âm lịch, cụ đồ thường trở qua, trở lại ngày đôi ba lần trên phố Hàng Buồm, Phúc Kiến (Tức Lãn Ông bây giờ) để chọn mua bằng được một "Bắp" tức một thùng củ thủy tiên do các nhà buôn Tàu bày bán. Có nhiều loại lắm. Cứ củ càng to thì càng đắt tiền. Rồi sau đó, cụ tìm cách lánh hẳn việc nhà, từ chối không tiếp khách khứa trong hàng tuần liền, để chăm lo chuyên chú cho việc gọt tỉa thủy tiên. Khi ấy, có ai sơ ý hỏi han điều gì, cụ đều không trả lời, coi như người đã nhập thiền vậy. Nhà báo Nguyễn Hà hồi nhớ: Sau khi gọt, các lát cắt của củ hoa sẽ chảy nhựa, cụ tôi phải đem củ thủy tiên ngâm úp vào nước để nhựa tiết ra tan chảy hết.
Gọi là "ngâm cầu". Ngâm khoảng ngót một ngày thì được. Trong thời gian ngâm thì cứ dăm sáu giờ đồng hồ lại phải rửa cho củ thủy tiên sạch nhớt. Nếu không sạch nhớt thì củ sẽ bị thối. Mỗi năm cụ giở ra gọt thủy tiên thì cứ lục đục suốt đêm, hầu như chả chợp mắt lúc nào.
Hàng năm, cứ vào dịp đầu tháng chạp âm lịch, khi những cơn gió bấc cuối đông dường như đã chùng lại trước những làn hơi ấm đầu xuân mơ màng, ấy là lúc những người chơi hoa sẽ vào cuộc mới. Những củ thuỷ tiên khô do lái buôn đem về từ các tỉnh duyên hải Nam Trung Hoa, bây giờ sẽ được đem ngâm nước cho căng mọng và nhú mầm. Nom chúng tựa như những củ hành tây vừa ra giống. Sau đó, họ, những người chơi thủy tiên chuyên nghệ sẽ tìm lấy một chốn kín đáo, khuất nẻo để chuyên tâm lo việc gọt tỉa hoa.
Gọt tỉa thuỷ tiền, đó chính là một công đoạn tỉ mỉ, khó khăn, phức tạp và rắc rối nhất trong cách chơi thuỷ tiên cổ truyền Cụ giáo Lê Đăng Nghị còn nhớ rất tỷ mỷ:
- Phải chọn đoán cho đúng phần mặt chính của củ. Nếu vô ý gọt trái mặt, củ thuỷ tiên sẽ đâm mầm tréo nghẹo, mắt hết tư thế đẹp. Mà khi gọt phải lựa đôi tay cho khéo, kẻo phạm phải chỗ đọt mầm tương lai, củ thuỷ tiên sẽ bị hoại nát mà thui chột mất dò hoa.
Lại phải gọt hướng sao cho các mầm hoa sau này sẽ vươn theo thế đã chọn. Không để chúng trổ lung tung, vô lối. Toàn là phải dò dẫm, đoán định, phỏng chừng, ấy mới là khó chứ.
Sau công đoạn ngâm cầu, người ta bắt đầu giai đoạn dưỡng hoa. Chủ yếu là dưỡng bằng nước sạch. Người chơi hoa ngâm củ thủy tiên trong các bát gốm hoặc sứ rồi hằng ngày bắt đầu quá trình chăm sóc rất tỷ mẩn, cẩn trọng. Sau mỗi lần gọt sửa, củ thuỷ tiên phải được lau rửa bằng nước nhiều lần cho sạch nhựa. Các cụ ta thường rửa thuỷ tiên bằng chổi lông gà hay chối tóc. Như thế vừa sạch sẽ, vừa tránh xây xước, tránh làm tổn thương tới các mầm đọt non và cả bộ rễ mới kịp nhú. Củ thủy tiên từ lúc nảy mầm, đâm rễ, trổ giò, kết nụ phải trải qua ba bốn lần gọt tỉa, sửa sang và hàng vài ba chục lần thay nước mới. Thủy tiên là giống hoa ưa sạch sẽ, tinh khiết. Bởi thế, nó cần được uống nước trong hàng ngày và phải được đặt ở nơi thoáng mát, không vương bụi bậm, không ướm hơi xú uế.
Bà Quách Hồng Huyền là con gái làng Yên Phụ lên làm dâu làng Nghi Tàm. Cả đôi bên nội ngoại của gia đình đều có nghề gọt tỉa thủy tiên. Có lần bà Huyền còn tìm sang tận Phúc Kiến - Trung Quốc để cất thủy tiên về Hà Nội làm hoa thủy tiên của nhà bà.
Huyền cũng thuộc diện làm đại trà, giá bình dân chứ không phải thuộc diện cắt tỉa nghệ thuật kỹ càng, giá đặc biệt. Nhưng được cái bà Huyền có tài đoán đúng cho thủy tiên nở trong khoảng từ chiều ba mươi đến sáng mồng một ta, đúng mong muốn của khách chơi hoa nên bán buôn khá đắt hàng. Từ năm 2000, bà bắt đầu mở rộng việc kinh doanh thủy tiên, có năm bà làm tới dăm trăm bát thủy tiên, nhưng sau phải giảm dần.
- Đau lưng lắm bác ạ. Làm nhiều không chăm chút được hàng ngày, cây nó không thể đẹp được. Có khi lúc cắt gọt mong nó trổ hoa thế nọ nhưng nó lại trổ ra thế kia. Con cái dỗ mãi nó cũng chả thích theo nghề. Năm Canh Tý vừa rồi là năm nhuận, đắn đo cẩn thận lắm rồi mà người tính chả bằng trời tính. Cả Hà Nội thủy tiên đều nở sớm. Hăm nhăm hăm bẩy tết mà đã trắng rực cả chợ hoa. May nhà em còn vớt vát được vài trăm bình nở hăm chín ba mươi.
Hút chết bác ạ. Với lại, trước đây Nghi Tàm cũng mấy chục nhà làm thủy tiên nhưng rồi đa phần cũng thu hẹp dần vì nhà cửa cứ xây cho thuê hết, đất cát chả còn mấy mà lấy chỗ làm hoa.
Giờ đây, mỗi nhà kinh doanh hoa thủy tiên ở Hà Nội đều có cách thức và bí quyết riêng để chăm sóc cho cây thủy tiên ở giai đoạn ươm cây, trổ nụ đầy khó khăn này. Ví như củ nào kém đâm rễ, phải đem vùi trong cát ẩm. Cát phải được đãi rửa thật sạch. Thế mà trước khi vùi củ hoa vào trong bồn cát, lại phải đặt nó trong một tấm vải bông mới và sạch tinh, để chống nhiễm khuẩn làm thối bộ rễ. Khi cụm hoa trổ đủ số mầm chính, ba, năm, bẩy, chín - số lẻ bao giờ cũng hay hơn: tam đa, ngũ phúc, thất hiền, cửu long, cụm hoa cần phải được đặt trong bình thuy tinh hay bát sứ, cho cụm cây cố định dáng vẻ. Lâu nay có bát nhựa thay thế vừa rẻ vừa đỡ sứt vỡ.
Như thế, các mầm cây và giò hoa, cánh lá mới vươn lên thẳng ngay, không bị xiên lệch, vẹo vọ. Bởi xiên lệch vẹo vọ là phạm phải một điều tối ky trong kỹ thuật tạo dáng thủy tiên. Hoặc như ở các nhà kinh doanh thủy tiên chuyên nghiệp, họ thường đặt những phên tre đan thành giàn, ngâm xăm xắp trong bể nước. Mỗi ô mắt phên sẽ thay cho công dụng giữ thăng bằng, cố định cho cụm hoa như ở trong bình, trong bát nhỏ, rất tiện cho việc thay nước hoa hàng loạt mỗi ngày. Lúc nào chuẩn bị đưa hoa ra chợ, mới nương nhẹ tay cho cụm hoa vào các bình bát. Tôi đã tận mắt trông thấy giàn dưỡng hoa đan bằng lưới tre hình ô vuông thả trên bể nước nông có đường dẫn nước vào ra của gia đình anh Nguyễn Văn Thanh ở làng Thanh Nhàn. Trong thời gian dưỡng thủy tiên chừng 25 đến 30 ngày, anh Thanh phải chăm thủy tiên như chăm con mọn:
- Hàng ngày phải thay nước mới và rửa sạch củ hoa, rễ cây, lá cây, mỗi ngày ít nhất một lần. Nếu trời nắng nóng thì rửa cây thay nước hai ba lần. Mệt lắm. Nhưng nếu lơ là một chút thôi là nhựa các vết cắt lại dễ làm thối nước, thối củ. Rồi mỗi ngày lại phải để ý sắp xếp lại lá, hoa và rễ sao cho khóm thủy tiên phát triển hài hòa, đẹp mắt.
Tuy nhiên, việc chăm sóc hoa trong giai đoạn này thật chẳng dễ dàng chút nào. Nhất là vào những năm gần đây, trong điều kiện thời tiết và môi trường Hà Nội có rất nhiều biến đổi bất lợi. Dân ta đi chợ mua hoa thủỷ tiên, khi hỏi đến giá cả, thường chê đắt rẻ, song ai đã từng tận mắt theo dõi những công việc của người làm hoa và cùng chia sẻ với họ bao bất trắc, gian nan của nghề hoa, mới cảm nhận rõ giá trị của mỗi dò hoa quý. Tháng chạp năm Đinh Sửu trước tết Mậu Dần 1998, thời tiết nước ta không thuận, mưa nắng thất thường, có buổi nồng nực hơn cả mùa hè. Môi trường và nguồn nước nhiều khu vực lại bị ô nhiễm nặng. Hàng chục nhà kinh doanh đã cầm chắc lỗ vốn bạc triệu. Riêng đợt thủy tiên mới ra giống của nhà anh Thanh ở làng Thanh Nhàn là có chút hứa hẹn cho triển vọng kha khá. Song chủ nhân của chúng cũng không giấu nổi nỗi lo âu, thấp thơm. Nhất là khi anh đã rót vào đợt thuỷ tiên ấy số vốn ban đầu vài chục triệu đồng. Đó là chưa kể tới các đợt hoa thí điểm hồi trước, khi được, khi mất, hồi anh Thanh mới bước vào nghề và Hà Nội mới gây dựng lại thú chơi thuỷ tiên.
Chừng vào khoảng tết ông Công, ông Táo, khi hơi xuân nồng nàn đã vây bọc khắp không gian, những giò thuỷ tiên sớm sẽ trổ hoa đợt đầu, đưa hương thơm thoang thoảng, nhẹ nhàng. Song mà vào ngày trước, những người chơi hoa thủy tiên sành điệu, cứ nhất định tìm cách hãm cho hoa nở đúng vào thời khắc giao thừa, mới cho là đúng phép. Bà Phúc Lâm Đỗ Thị Dung nhà ở phố Hàng Đồng cũ, là con cụ Ký Hanh, một viên chức dưới thời Pháp thuộc. Bà vẫn hãy còn nhớ cách thức thúc hoa và hãm hoa của cụ Ký Hanh khi xưa:
- Mỗi khi đến ngày 28, 29 giáp Tết Nguyên Đán mà nụ hoa coi vẻ còn se sắt, chưa có dáng sắp nở, thì phải lấy nước âm ấm thay luôn, để thúc nụ chóng mập. Còn nếu như thấy nụ hoa đã ra chiều muốn mở cánh, thì phải lấy chút lòng trắng trứng gà, phết một đôi lượt bên ngoài nụ, nhằm hãm cho hoa nở đúng lúc giao thừa. Thế mới gọi là đại cát cho năm mới.
Còn nếu như trong nhà không có người rảnh rỗi, hoặc là có người rảnh rỗi nhưng chẳng thành thục với nghệ thuật gọt tỉa thủỷ tiên, thì vào dịp giáp tết âm lịch, người ta sẽ tìm lên chợ hoa Cống Chéo - Hàng Lược. Nơi ấy, giữa một vườn đào quất, cây cảnh, hoa tươi rực rỡ muôn màu, những bình thủy tiên bé nhỏ, xinh xắn với vẻ đẹp khiêm nhường, duyên dáng, với hương thơm cao sang, độc đáo, luôn là điểm hấp dẫn bước chân của những người hâm mộ.
Những tụ điểm bán hoa thủy tiên mới nở rộ khoảng mươi lăm năm nay là chợ hoa Quảng An, chợ hoa Hoàng Hoa Thám, chợ hoa Vạn Phúc, và nhất là dọc đường phố Từ Hoa bên làng Nghi Tàm, một thủ phủ của thủy tiên Hà Nội.
Phần lớn khách chơi hoa thuy tiên vào dịp tết, thường là các cụ ông trí thức, văn nghệ sĩ cao tuổi. Có thể hiểu như là, họ đã từng trải qua biết bao thăng trầm, cũng như nếm trải biết bao hương vị đắng ngọt của cuộc sống, của nỗi buồn, niềm vui. Cái điểm dừng thủy tiên hoa, phải chăng là nơi ẩn chứa, nơi gửi gắm những điều tâm sự, những nỗi ước mong cao xa và thầm lắng khó nói thành lời ở cái tuổi ngoại tuổi tri thiên mệnh? Còn tôi, mỗi năm vẫn thường được cậu con trai đỡ đầu là giảng viên trường Đại học khoa học xã hội nhân văn đều đẳn đem biếu đôi bát thủy tiên, một bát dâng trên ban thờ, một bát trưng ở phòng khách. Thật ưng ý quá. Sáng mồng một tết năm nào cũng vậy, tôi thường mặc tấm áo dài mới chụp ảnh bên bình hoa thủy tiên rồi đưa FB chúc mừng họ hàng, bầu bạn gần xa.
Ngày xửa ngày xưa, Hà Nội từng có những kỳ thi hoa thủy tiên vào dịp đón xuân tại đền Bạch Mã và Ngọc Sơn cổ kính. Cụm hoa nào đoạt giải, được cả sắc hương lẫn dáng thế, sẽ được đưa lên kiệu rước trên phố Hà Nội cho bàn dân chiêm ngưỡng, tôn vinh.
Khi thủy tiên nở hoa, mỗi cụm hoa mang một dáng vẻ khác nhau theo lối đặt tên của các cụ xưa. Dáng phượng múa, dáng rồng bay, dáng hạc chầu, dáng tiên sa... Mỗi cụm hoa thực sự là một tác phẩm nghệ thuật mang dấu ấn độc đáo của bàn tay người yêu hoa, và là kết quả của nghệ thuật gọt tỉa thủy tiên khởi từ trước đó hàng tháng trời. Chính bởi vậy, người xưa mới ham thích thú chơi thuỷ tiên, thú chơi giàu sáng tạo và giàu tính thẩm mỹ, nghệ thuật. Ông Nguyễn Văn Chi, một chủ vườn hoa cảnh nổi danh ở làng Định Công chậm rãi:
- Các cụ ta xem thủy tiên khi nở hoa như một bộ mâm bạc chén vàng của nhà vua. Bình chọn một cụm thủy tiên đẹp, phải xét toàn diện. Lá phải xanh đều và uốn lượn theo hình thế nhịp nhàng chứ không thẳng đuồn đuỗn. Các dò hoa phải cao thấp hài hoà, chứ không đâm tua tủa ngang mặt nhau, rễ phải rậm, dài, mềm mại và trắng muốt, không bợn một nốt nâu ủng, không đan rối lẫn nhau, trông hệt như bộ râu của một lão ông đại thượng thọ. Thế mới là tuyệt hảo.
Việc ấy, ta cũng có thể hình dung lại qua câu chuyện của nhà văn Vũ Bằng in trong cuốn Mê Chữ của ông. Trong văn chương nghệ thuật, người Á Đông thường giữ quan niệm "Quý hồ tinh bất quý hồ đa". Trong chiếc bình pha lê trong suốt, cụm thủy tiên bé nhỏ lộ vẻ đẹp thơ ngây, trong trắng, dịu dàng, tựa như một bầy tiên vừa từ thượng giới bay xuống tắm mình trên dòng suối mát, giữa một cánh rừng cổ tích nguyên sơ.
Những năm đầu thế kỷ XXI, khi con đường ven hồ Tây chạy men làng Nghi Tàm được khai thông và đặt tên là phố Từ Hoa, thì người Hà Nội đã có cơ hội tìm lại những ngôi nhà của các nghệ nhân hoa cảnh nổi tiếng để đặt hoa thủy tiên đem về chơi Tết và đem đi biếu Tết. Nghệ nhân Nguyễn Văn Ninh, tức cụ Hai Ninh ở tuổi ngoại chín mươi, ngoài kỹ nghệ trồng địa lan và trà hoa nổi tiếng, đã kịp truyền lại cho các cháu nội kỹ nghệ tỉa hoa thủy tiên rất cầu kỳ, công phu, tạo nên những bình hoa duyên dáng, đẹp đẽ:
- Hoa phải là hoa đơn, cánh dõng dạc, nhuy phân minh. Hoa kép rối cánh, lại kém thơm, không mấy được chuộng. Lá thủy tiên cong cong hướng ra bên ngoài, lá thấp để tôn hoa cao. Hoa đan xen trên dưới hài hòà. Gọt củ lúc đầu mà sau được đúng như đoán định là không dễ đâu. Nhất thiết phải là dò hoa chớm nở đúng lúc giao thừa, mới thập phần hoàn hảo, toàn bích. Ngày trước, ở Hà Nội, thường có các cuộc thi hoa thủy tiên ở đền Bạch Mã trên phố Hàng Buồm và đền Ngọc Sơn giữa hồ Hoàn Kiếm. Hễ gia đình nào thắng giải ở hội thi hoa thủy tiên đền Ngọc Sơn hay đền Bạch Mã thì coi như đạt được niềm vinh hạnh hiếm có trong đời người. Họ thường tổ chức buổi rước hoa, khao giải linh đình lắm.
Vài mươi năm gần đây, thủy tiên đã hiện diện trên khắp các chợ hoa Hà Nội. Lọt giữa muôn hồng ngàn tía các loại hoa cảnh đông tây nam bắc, nước trong nước ngoài, những bình thủy tiên nhỏ bé, khiêm nhượng vẫn thu hút sự say mê, đắm đuối của những kẻ yêu những nét đẹp xưa cũ Hà Thành. Cụ bà phố cổ áo kép hoa tóc búi trễ khăn len quàng cổ ngắm đi ngắm lại bình thủy tiên hàm tiếu:
- Ông nhà tôi lúc còn sống yêu hoa thủy tiên lắm, toàn tự gọt hoa lấy. Nhưng ông mất lâu rồi. Năm nào tôi cũng mua một bình cúng trên ban thờ cho ông thỏa nguyện. Hoa mua ở chợ không đẹp bằng ông nhà tôi tự gọt tỉa, nhưng cũng gọi là cho có. Không thì cứ lâu nay, tại ngôi nhà cổ 87 Mã Mây đã hình thành Câu lạc bộ Hoa thủy tiên Hà Nội bao gồm hàng chục thành viên cả lớn tuổi lẫn nhỏ tuổi. Mọi người truyền cho nhau các thức chọn củ, tỉa hoa, chăm sóc hoa khá kỹ lưỡng. Có một lần tôi được mời lên ghi hình cùng Đài PT - TH Hà Nội trong chương trình Người Tràng An - Người Hà Nội tại nhà 87 Mã Mây. Tôi tình cờ được xem ngắm mấy mẫu hoa mà các thành viên trong CLB hiện trưng bày tại đó. Cảm quan ban đầu là các khóm hoa đều có hình thái ý tứ riêng rất điệu đà, duyên dáng, rất khác với các khóm thủy tiên bầy nhan nhản ngoài phố chợ, Thế rồi trên mạng xã hội, cũng xuất hiện nhiều bạn trẻ đam mê học hỏi cách gọt sửa thủy tiên, bất chấp nhiều kỳ thất bại ban đầu, củ chẳng ra củ, cây không ra cây. Có được mẫu hoa nào tạm ưng ý, các bạn ấy sẵn sàng chia sẻ chung vui với cộng đồng mạng. Tin chắc một ngày nào đó, các bạn sẽ thành công như ý với niềm đam mê nhiệt huyết, thật tâm.
Thế là một thú chơi cao sang vào dịp tết cổ truyền dân tộc đã và đang trở lại với người Hà Nội sau cái khoảng cách thời gian dằng dặc bằng cả mấy cuộc chiến tranh liên miên cộng lại, với biết bao đổi thay về thời cuộc trên đất nước ta.
Với mùi hương thơm ngát mà không nồng nã, ngạt ngào, quyến rũ mà sâu thẳm, kín đáo, dịu nhẹ mà chẳng nhạt nhoà, pha tạp, hương thủy tiên thật xứng là một thứ hương thanh cao, nồi trội trong thời khắc thiêng liêng của đất trời khi chuyển sang năm mới.
Trong không khí xum họp gia đình của ngày đầu xuân, hương thuỷ tiên lẫn trong làn khói hương trầm ấm áp, nồng đượm, hoà trong hương cam Canh, bưởi Diễn thơm thảo, ngọt ngào. Tất thảy, tạo nên một hương vị tết nhất cổ truyền đặc biệt Hà Nội, cho những kẻ xa quê khó cầm lòng khi tưởng đến.
Nội dung Podcast đến đây xin được tạm dừng, thân mến chào tạm biệt quý vị!


"Hồi sinh nghề chạm bạc ở Hà Nội" - là nhan đề bài Podcast hôm nay, bài viết của tác giả - Nhà báo Vũ Thị Tuyết Nhung. Kính mời quý vị cùng lắng nghe.
Chạm bạc, đó là nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống khá nổi tiếng ở Hà Nội. Vào những năm thuộc thập niên 60, 70 và 80 của thế kỷ trước, khi thị trường Đông Âu còn rộng mở, nghề chạm bạc phát triển thật rấm rộ. Các lớp học nghề liên tục được mở ra đào tạo được hàng trăm thợ chạm mới phục vụ cho các chiến dịch làm hàng xuất khẩu. Nhưng khi những chến dịch ổ ạt ấy qua đi một cách mau chóng, thị trường Đông Âu tan rã, thì hầu hết những người thợ được đào tạo theo lối cấp tốc ấy cứ theo năm tháng mà rơi rụng dần.
Ngô Mai Hương. Cản nhà cũ khuất sâu đường như biệt lập, cách xa sự đông đúc, sầm uất của dãy phố Bạch Mai. Nhưng khách cũng có thể dễ dàng tìm thấy nó nhờ sự dẫn dắt của những âm thanh nhà nghề quen thuộc và đều đặn hàng ngày. Ấy là tiếng đục chạm chí chát, lách cách, rộn rã.
Xưa nay, thế giới của những người thợ chạm bạc có lẽ chỉ quanh quẩn không xa khuôn bàn chạm rộng không đầy một thước vuông. Vậy mà từ đó, cả trời đất, núi non, cỏ hoa, chim thú, Thần Phật, dưới bàn tay người, đã hiển hiện, sống động và trường tồn dường như là vĩnh viễn. Nhìn thì hấp dẫn, nhưng người ngoài nghề khó mà học theo, nói chi đến việc đeo đuổi nghề đến suốt đời. Nghệ nhân Nguyễn Đức Chỉnh bộc lộ đôi điều:
- Trong cuộc đời làm nghề hơn năm mươi năm qua, tôi cũng đã góp công đào tạo được vài ba lớp thợ trẻ. Tất cả cũng độ ba bốn chục người. Nhưng mà bây giờ chẳng còn mấy ai đậu lại với nghề.
Các cháu chúng chuyển hết sang nghề hàng vàng hay là một số nghề khác dễ phát tài hơn là nghề thợ chạm bạc. Nghề này ai phải nặng lòng lắm, mới trụ được, tựa như là người nghệ sĩ ấy, cứ say nghề là theo thôi, biết là nghèo mà cũng đành chịu.
Cũng sống trong một con ngõ nhỏ lọt giữa phố Bạch Mai, ngõ Giếng Hậu Khuông, cách không xa ngôi nhà của nghệ nhân Nguyễn Hữu Chỉnh, người thợ đôi bàn tay vàng Nguyễn Ngọc Nghiên hàng ngày vẫn bình thản và lặng lẽ ngồi bên chiếc bàn nghề cũ kỹ, từ tốn truyền nghề cho đứa con út và một cậu cháu gọi bằng bác. Vẫn là những tràng tiếng đục chạm vang lên rỉ rả, đều đặn như một điệu nhạc lúc vui, lúc buồn.
Chạm bạc, đó là nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống khá nổi tiếng ở Hà Nội. Vào những năm thuộc thập niên 60, 70 và 80 của thế kỷ XX, khi thị trường Đông Âu còn rộng mở, nghề chạm bạc phát triển thật rầm rộ. Các lớp học nghề liên tục được mở ra đào tạo được hàng trăm thợ chạm mới phục vụ cho các chiến dịch làm hàng xuất khẩu. Nhưng khi những chến dịch ồ ạt ấy qua đi một cách mau chóng, thị trường Đông Âu tan rã, thì hầu hết những người thợ được đào tạo theo lối cấp tốc ấy cứ theo năm tháng mà rơi rụng dần. Âu cũng là thuận theo quy luật của cuộc sống. Nhưng điều đó không khỏi đem lại cho những người thầy một nỗi buồn thấm thía.
![]() |
| Nghề chạm bạc ở Hà Nội. |
Song bao giờ cũng vậy, trong cái rủi lại có cái may. Số ít những người thợ nghề còn trụ lại, hoặc tiếp tục học nghề trong thời kỳ khó khăn nhất, lại chính là số con cháu, họ hàng thân thuộc của gia đình. Một lần nữa, phương pháp dậy nghề truyền thồng theo lối cha truyền con nối, lại khẳng định ưu thế khó phủ nhận trong thực tế. Mặc dù không phải hầu hết những đứa con của các gia đình thợ chạm bạc ở Hà Nội đều theo nghề cha ông. Số theo nghề cũng thật ít ỏi, mỗi nhà chỉ một vài người. Nhưng đa số họ đều là những người thợ giỏi đầy triển vọng.
Trong giới thợ chạm bạc ở Hà Nội, ông Nghiên nồi tiếng về thể loại tranh chân dung. Và chạm tranh chân dung cũng chính là thể loại khó nhất trong nghề. Chính bức chạm nổi Bác Hồ ngồi đọc báo ở Phủ Chủ tịch đã đem lại cho ông tấm huy chương vàng trong triển lãm hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống Việt Nam năm 1997. Và chính bức chạm đã trở thành một mẫu hình thị phạm quý giá, khi ông truyền lại những bí quyết của cách thức chạm bạc thể loại chân dung cho lớp trẻ.
Như những người thợ thức thời, ông Nghiên cũng không quá nghiêm ngặt với các lễ lối cũ, cách thức hành nghề cũ. Ông trông đợi rất nhiều vào khả năng sáng tạo của lứa thợ trẻ. Đó chính là sức sống mới của nghề truyền thống cha ông. Bởi vậy, ông chỉ quan tâm nhất đến việc phổ biến những kiến thức cơ bản ban đầu của nghề chạm bạc cho con và cháu, và rất tôn trọng ý tưởng cải biến những mẫu mã mới của chúng. Anh Nguyễn Ngọc Tú, con trai ông Nghiên ngồi bên khuôn bàn chạm bạc với dáng người thanh mảnh và nụ cười rất tươi tắn, hiền hậu trên gương mặt thanh tú:
- Các mẫu mã hoa lá ngày xưa của các cụ rất đẹp, rất nghiêm cẩn. Nhưng bây giờ nhiều khách hàng thích các mẫu mã mới, hoa lá thoáng đạt hơn. Nên nhiều khi mình phải cải biến đi một chút thì hàng mới dễ bán. Như mẫu hoa lan tây cánh dài mảnh và dáng bay thoát như thế này chẳng hạn.
Có một thực tế là cuộc sống của đa phần thợ thủ công mỹ nghệ ở Hà Nội, kể cả thợ mỹ nghệ kim hoàn, đều chưa thật khá giả. Cũng sống trong một con ngõ nhỏ khuất khúc giữa phố Khâm Thiên, ngôi nhà kiêm xưởng nghề của nghệ nhân Nguyễn Ngọc Trọng thật là chật chội. Ông là một người đồng nghiệp giàu tâm huyết của nghệ nhân Nguyễn Đức Chỉnh và người thợ đôi bàn tay vàng Nguyễn Ngọc Nghiên. Dòng chữ nổi theo lối đại tự mà ông thờ trong ngôi nhà gồm ba chữ: Đức Bản Giã. Ấy là cách viết tắt của một câu châm ngôn cổ: Đức giả bản giá: Nhà lấy đức làm gốc.
Theo nghiệp thợ, lấy công làm lãi, lấy tín làm đầu, trong làng thợ bạc ở Hà Nội, nghệ nhân Nguyễn Ngọc Trọng là người nhận được rất nhiều hợp đồng và đơn đặt hàng của khách trong và ngoài nước. Công thơ chính của xưởng thợ hiện nay cũng chỉ tương đương như lương công nhân lành nghề trong các doanh nghiệp nhà nước. Nhưng chỉ có trong tay chừng hơn chục thợ thuyền, chủ yếu là con cháu, họ hàng, lại thêm điều kiện nhà xưởng chật chội, ông thường không đáp ứng đủ yêu cầu của khách hàng. Có một số công ty nước ngoài muốn đầu tư cho ông mở rộng quy mô sản suất.
Song ông tự lượng sức mình, sức thợ, nên đành từ chối. Thực ra là ông đang trông đợi rất nhiều ở thời kỳ tới, khi người con trai út của ông thực sự trưởng thành một cách vững vàng.
Như rất nhiều gia đình thợ chạm bạc ở Hà Nội, nghệ nhân Nguyễn Ngọc Trọng cũng chỉ có được một người con duy nhất theo nghề tổ tiên: Anh Nguyễn Ngọc Anh. Người thấp đậm, đôi mắt đen sẩm, năm nay Ngọc Anh mới 26 tuổi nhưng đã có gần hai mươi năm theo cha từ những nét đục chạm vụng dại đầu tiên, kể từ khi anh hãy còn là một cậu bé học trò lớp vỡ lòng, cầm chiếc búa nhỏ xíu còn chưa vững.
Bây giờ, có thể anh chưa đủ khả năng để thay cha đảm đương quản lý cả một xưởng thợ mỹ nghệ chạm bạc danh tiếng. Nhưng dường như anh đã bắt đầu thổi một luồng sinh khí mới cho xưởng nghề gia đình bằng những gì mà anh thâu nhận được từ luồng gió mạnh mẽ của thời đại. Đó cũng là điều mà người cha hằng đang mong đợi ở đứa con yêu. Anh Nguyễn Ngọc Anh tâm sự cùng chúng tôi bên chiếc máy vi tính, trong lúc anh đang hoàn thiện nốt mẫu trang trí mặt trống đồng trên một sản phẩm mới.
- Mình là con thì phải theo nghề cha thôi. Có điều là khi xưa, các cụ toàn vẽ mẫu bằng tay, có chỗ không đều đặn, sắc nét như ý muốn. Bây giờ thiết kế mẫu trên máy vi tính, nên có thể sửa sang hoàn thiện đến lúc nào thật ưng ý thì mới đem áp mẫu trên sản phẩm, đỡ tốn công sức rất nhiều.
"Có nụ mừng nụ, có hoa mừng hoa". Nhưng với tâm nhìn nhận, sức suy gẫm của một nghệ nhân bậc thầy ngành chạm bạc ở Hà Nội, người cha của anh không khỏi còn những điều lo lắng, trăn trở. Những lo lắng, trăn trở không chỉ cho nghiệp nhà, mà còn xa hơn thế và rộng hơn thế và sâu hơn thế.
Cho dù máy móc hiện đại như thế nào đi chăng nữa, thì các mẫu mã hoa văn cũng vẫn phải giữ được dáng nét và đặc trưng mỹ thuật cổ truyền dân gian trong các sản phẩm. Và mỗi sản phẩm làm ra đều phải mang dấu ấn bàn tay cá nhân người thợ. Nếu như không giữ được như vậy, thì sẽ chẳng ai còn tìm đến với thủ công mỹ nghệ dân tộc.
Tuổi ngoại bẩy mươi, Nghệ nhân Nguyễn Đức Chỉnh ở Ngõ Mai Hương vừa có thêm một niềm vui mới. Có một cô học trò do ông dạy dỗ từ nét đục chạm đầu tiên sau năm năm trời, nay đã thành thục trong nghề. Đó chính là cô con dâu út của ông. Nhìn bức chạm bạc mới đang trong giai đoạn hoàn thiện mà đã hé lộ vẻ rực rỡ, sống động của hoa lá, cỏ cây dưới bàn tay cô thợ trẻ, người cha chồng không giấu nổi niềm sung sướng và tự hào thầm kín.
Thêm một người thợ, hơn nữa lại là một người thợ giỏi nghề, nghệ nhân Nguyễn Đức Chỉnh còn có thể trông đợi thật nhiều ở nghiệp nhà và nghiệp tổ mai sau. Có thể lắm chứ, bởi bắt đầu từ năm chuyển giao sang thế kỷ mới, cùng với một số ngành thủ công mỹ nghệ truyền thống của Hà Nội, nghề chạm bạc đang trên đà phục hồi và khởi sắc rõ rệt. Đang có hàng trăm gia đình thợ nghề giữ nhịp chạm quanh năm. Mở rộng và làm cho thông thoáng đầu ra của hàng hoa, đó có lẽ là điều trông chờ lớn nhất ở chính quyền thành phố và ngành tiểu thủ công mỹ nghệ Hà Nội của gia đình các nghệ nhân chạm bạc và các làng nghề truyền thống nói chung.
Ngày ngày, trong căn nhà nhỏ ở ngõ Mai Hương, tiếng đục chạm vẫn lách cách, râm ran. Nhưng liệu điệu nhạc nghề ấy, có thể hấp dẫn và thu hút lũ cháu nhỏ của ông? Câu hỏi đó còn chờ ở ngày mai.
Nội dung Podcast đến đây xin được tạm dừng, thân mến chào tạm biệt quý vị!

BẢO TỒN THÚ CHƠI ĐỊA LAN GIỐNG CỔ - là nhan đề bài Podcast hôm nay, bài viết của tác giả - Nhà báo Vũ Thị Tuyết Nhung, nguyên Trưởng ban Văn hóa - Xã hội, Đài PT - TH Hà Nội. Kính mời quý vị cùng lắng nghe.
Bài viết:
Trong cái thời khắc khởi đầu năm mới, đất trời thanh sạch, nhẹ nhàng, năng mai phơ phất non tơ, những đóá lan xuân hé nở, vươn lên những cánh nhỏ mềm như lụa nõn, khoe sắc màu thanh tân trang nhã. Làn gió đông dịu dàng chợt đến chợt đi, mang hương hoa toả lan, phảng phất khắp không gian. Lòng người chợt xốn xang, xao xuyến lạ lùng. Và bỗng dưng người ta nảy sinh cái ước muốn được trao gửi, được sẻ chia tâm tình.
Ngôi nhà của ông Nguyễn Văn Chi và bà Triệu Thị Thái ở làng Định Công, quận Hoàng Mai nằm trong một khu vườn quanh năm rợp bóng xanh. Mùa hạ, ngõ vào nhà thơm ngát hương hoàng lan, mùa thu, dìu dịu hương quỳnh, hương quế. Hương hoa từ trên cao theo gió sớm, sương đêm, buông tỏả xuống mặt đất hiền hòa, tạo nên một bầu không gian thanh nhã và mộng mơ.
Nhưng qua ba tháng mùa đông khô cằn, khi những màn mưa xuân phơ phất vương bay trong trời đất, ngôi nhà của ông Chi lại chìm ngập trong một bầu hương thơm nồng nàn mà rất đỗi thanh tao. Ấy chính là hương thơm của hàng trăm chậu địa lan đang kỳ trổ hoa. Ông Chi mê đắm vì lan đã bao năm rồi không nhớ nổi: "Mỗi giống địa lan nó lại có dáng lá vẻ hoa khác nhau, hương thơm cũng thế. Hoàng vũ thơm ngọt, Mặc biên thơm ngát, Cẩm tố thơm dịu, Hoàng điểm thơm thanh... Chỉ nghe gió thổi từ xa xa đã biết khóm lan nào đang tỏa hương, Người cứ như đang bay lên mây ấy chứ".
Trong nền văn hóa cổ truyền các dân tộc Á Đông, sự vần chuyển của một năm thời gian vũ trụ được mã hóa bằng hình tượng các loài hoa quý giá và đặc sắc của bốn mùa: Xuân lan - Hạ liên - Thu cúc - Đông mai. Hoa lan mùa xuân, hoa sen mùa hạ, hoa cúc mùa thu, hoa mai mùa đông.
![]() |
| Hoa địa lan có nguồn gốc đầu tiên từ vùng Tây Nam Trung Quốc |
Hoa lan, tự xa xưa đã được các bậc tiền nhân liệt vào hàng "vương giả chi hương" có lẽ không chỉ bởi chúng vốn được lưu truyền trong chốn cung vua, phủ chúa cao ngạo, thâm nghiêm, mà chính là bởi chúng mang thứ hương thơm không loài hoa nào trên thế gian sánh nổi. Tuy nhiên, ông cha ta tự xưa chỉ ngưỡng vọng các loài địa lan tức là các loại hoa được trồng trong đất, do tự tay người chăm sóc. Còn đối với các loài phong lan, tuy muôn hình vạn trạng, thắm sắc, đượm hương, thì cũng vẫn chỉ là cây rừng hoa núi, hoang sơ, lạ lẫm. Người ta yêu địa lan không chỉ bởi sắc đẹp và hương thơm của chúng, mà còn bởi vì, chúng là những tác phẩm nghệ thuật phụ thuộc vào chính bàn tay kinh nghiệm và sự sáng tạo của những người yêu hoa.
Vậy mà, trong vòng nửa thế kỷ qua, người Hà Nội chỉ loáng thoáng nghe nhắc đến hoa lan qua câu tục ngữ: "Làm chúa chơi lan, làm quan chơi trà" hoặc là qua áng văn chương tuyệt mỹ của nhà văn người Hà Nội gốc, nổi tiếng hào hoa, lịch lãm Nguyễn Tuân:
"Vang bóng một thời". Trong những câu chữ được gọt giũa cầu kỳ đến mức điêu luyện ấy, vẫn đau đáu nỗi niềm của một kẻ nặng lòng hoài cổ, đang thả hồn chìm đắm trong những dòng hồi ức lung linh, kỳ ảo, nhớ về vẻ đẹp của thời quá vãng xa xôi tưởng sẽ không bao giờ sống dậy, chỉ còn lại đôi ánh hào quang mờ dần trong niềm tiếc nối khôn nguôi.
Thế rồi, khi nhắc tới khái niệm dân dã như ngọc lan, hoàng lan và sau này, khái niệm đó được làm giàu thêm bởi trăm loài phong lan hoang dã cùng những giống hoa lan được nuôi trồng theo phương pháp công nghiệp hiện đại thì dường như không có tên tuổi bất kỳ một loài hoa địa lan cổ truyền nào lọt vào trong trí não những đứa trẻ Hà Nội sinh ra ở cái thời gian khó dằng dặc ấy.
Thì bỗng đâu, cũng thầm lặng, nhẹ nhàng như là trong khoảnh khắc lìa xa năm xưa, vào một sớm đầu xuân mới, dưới làn nắng nhẹ vương tơ, thấp thoáng hiện lên những dáng vẻ, những sắc màu như lạ như quen. Lan Hoàng Vũ như cơn mưa màu cốm non, lan Hoàng Điểm hoa nâu chấm vàng như gấm thêu, lan Cẩm Tố hanh vàng, cành vươn, cánh dài thon thả, thanh thoát như đôi cánh tay vũ nữ vút bay trong điệu khúc thần tiên.
Và người Hà Nội, cũng như chợt tỉnh giấc mơ, mừng rỡ đón chào những nàng tiên lan, những nàng tiên chỉ hiện hình trên thế gian, dưới một bầu trời bình yên, sán lạn, và chỉ khoe hương sắc bên những con người không mấy còn cay cực, vật vã bởi cuộc mưu sinh khốn khó. Hà Nội trong những năm cuối thế kỷ XX, dường như đã thoáng hiện dáng vẻ của một chốn địa đàng sơ khởi mà bao lớp người chúng ta từng mơ ước
Và cứ như thể đã quen biết tự trăm năm, người Hà Nội đã không lấy làm lạ lẫm khi gọi tên hàng chục hàng trăm loài địa lan quý hiếm đang tụ hội trở về đất kinh kỳ ngàn tuổi. Nào là Bạch Ngọc, Thanh Ngọc, Thanh Trường, Ngân Biên, Mạc Biên, Cẩm Tố, Hoàng Vũ, Hoàng Điểm, Tiểu Kiều, Đại Kiều... Những tên hoa cao sang, mỹ lệ đến thế mà lạ không, tưởng như ta đã từng biết đến trong những giấc mơ xa.
Nghe người ta nói, thì hoa lan có tới vài ba trăm loài, với hàng ngàn cá thể khác nhau. Song những dòng lan lưu truyền tại Hà Nội tương truyền có nguồn gốc từ hoàng thành, vương phủ, nên chúng mang hương thơm quý giá hơn hẳn địa lan ở các vùng miền khác trên đất nước. Bởi thế, chúng được giới chơi lan mến chuộng tha thiết.
Cho đến bây giờ, vườn cảnh nhà nghệ nhân Lê Quyết Bội tại làng Nghi Tàm, bên bờ hồ Tây cũng chỉ có dăm bẩy chậu lan bầy rải rác quanh bể nước non bộ trước sân nhà. Lão nghệ nhân, tóc bạc trắng, thong thả cầm chiếc bình đồng nhỏ, khẽ khàng tưới nước vào từng chậu lan. Ngày xửa ngày xưa, cả một dải đất rộng lớn bên hồ vốn là thủỷ thổ của các loài địa lan cổ truyền...
Bằng một giọng nói trầm trầm, nghệ nhân đà đận kể: Lan là một loài cây rất kỹ kén đất. Vào mùa hanh khô, người ta tát ao, vét bùn. Gạt đi lớp bùn hoa trên mặt, người ta xắn lớp bùn thứ hai đem phơi khô trên sân nắng. Chừng độ ba bốn, thậm chí cho tới sáu tháng sau, khi bùn khô nẻ, hết sạch tạp chất, sâu bọ, người ta mới đem đập vỡ, sàng lọc, để đưa lên chậu trồng lan. Bởi vì rễ lan ưa thoáng khí và thoát nước.
Nghệ nhân Nguyễn Luân, một nhà làm hoa chuyên nghiệp của làng Nghi Tàm lúc nào cũng tha thiết với địa lan giống cổ:
- Người xưa truyền lại rằng, lan cũng như trà, tựa như các nàng phi tần, quận chúa, tiểu thư khuê các, hiếm khi lộ diện bên ngoài dưới ánh sáng mặt trời gay gắt, sỗ sàng. Lan thường quen ẩn mình dưới tán lá rợp hay giàn thưa che nắng, như người đẹp núp bóng quân vương mà khoe hương sắc.
Chuyện xưa kể lại rằng, những khóm hoa trong cung vua phủ chúa sở dĩ tốt tươi, ấy là bởi hàng ngày chúng được các cung tần mỹ nữ dốc công chăm sóc. Chờ khi lan trổ hoa, các nàng sẽ có cơ hội đón rước đấng quân vương đến ngự lãm. Do chậm sinh sôi, nảy nở, nên lan phải được chăm sóc tỉ mỉ, chu đáo và kỹ lưỡng.
Tuy nhiên, do là thứ cây khó tính, nên việc chăm sóc cũng phải vừa mức, tránh sự bất cập cũng như thái quá. Phân bón cho lan cũng không thể tùỳ tiện, phải ngâm ốc và cá vụn trong nước khoảng độ nửa năm cho hoai hết mùi hôi, rồi mới pha loãng mà tưới cho lan.
Chớ bao giờ nghĩ tới việc có thể dùng phân hóá học hay thuốc kích thích sinh trưởng. Thế thì thà trồng rau mà hái lá nấu canh.
Nghệ nhân Nguyễn Ninh ở làng Nghi Tàm, người sở hữu một vườn trà lan nức tiếng trong giới chơi hoa xứ Bắc với những khóm lan đắt giá tới hàng chục triệu đồng là một bậc cao thủ trong kỹ nghệ trồng và chăm sóc những giống địa lan giống cổ được cha ông truyền lại:
- Khách đến tham quan thì nhiều chứ mua bán thì không mấy.
Được giá thì vợ chồng tôi bán, không thì lại để chơi xuân. Tiền cũng quý nhưng lan còn quý hơn ấy chứ. Bán đi gây lại chả dễ trong cái thời tiết khí hậu ô nhiễm thế này. Lan giờ đây dễ bị nấm bệnh. Chữa bệnh cho lan có khi còn khó hơn chữa bệnh cho người. Lá lan hễ cứ xuất hiện một vài chấm đen là kém đi vẻ đẹp toàn bích. Người chơi mất hứng luôn. Một nhánh lan lụi đi thì ruột xót như muối vậy.
Mặc dù hoa lan mỗi năm chỉ nở có một lần, song kỳ hoa kéo dài chừng vài ba tháng, như thế, hương sắc của nó đã kịp trở thành niềm thân yêu quấn quýt khó rời. Hương hoa lại tuỳ theo thời khắc hay hướng gió mà tỏa lan gần xa, lúc thắm thiết, sực nức, khi lại nhạt nhòà xa xôi, như mơ như thực, như có như không. Bởi vậy càng khiến cho kẻ yêu hoa thêm say đắm, chờ đợi, ngóng trông.
Còn nhớ trong khúc Tỳ Bà Hành nồi tiếng, khi cô gái đẹp bến Tầm Dương buông tay đàn ngưng lặng trên mặt sông đêm, nhà thơ Đường Bạch Cư Dị đã thốt thành lời:
Thử thời vô thanh thắng hữu thanh
(Lúc này lặng tiếng còn hơn cất tiếng)
Cái khoảnh khắc lan ngừng tỏả hương giữa hai đợt gió, cũng có thể ví như thế chăng?
Hoa lan có nhiều chủng loại. Mỗi loại thường chọn mùa trổ bông khác nhau. Có thứ lan nở mùa xuân, có thứ lan nở mùa hạ, song có thứ lan nở về mùa thu hay mùa đông. Lại có thứ lan nở cả bốn mùa. Các cụ ta khó tính, giới sĩ phu Bắc Hà vốn thế, vẫn chê lan tứ thời là thứ dễ dãi, rẻ tiền, như những kẻ xu phụ tiểu nhân ngoài xã hội, không biết giữ phẩm giá tư cách trong sự đổi thay của thời thế. Nói như vậy, quả là cũng oan uổng cho hoa. Song đã gọi là nghệ thuật, là thú chơi, có mấy khi và có mấy ai lại không thiên lệch một đôi phần.
Trong cái thời khắc khởi đầu năm mới, đất trời thanh sạch, nhẹ nhàng, nắng mai phơ phất non tơ, những đóa lan xuân hé nở, vươn lên những cánh nhỏ mềm như lụa nõn, khoe sắc màu thanh tân trang nhã. Làn gió đông dịu dàng chợt đến chợt đi, mang hương hoa tỏả lan, phảng phất khắp không gian. Lòng người chợt xốn xang, xao xuyến lạ lùng. Và bỗng dưng người ta nảy sinh cái ước muốn được trao gửi, được sẻ chia tâm tình.
Hàng năm, vào một ngày xuân đẹp trời, lan trong vườn nở rộ, nhà chủ thường mời gọi dăm ba người bạn chí cốt, thuộc diện “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” đến chơi nhà. Khách gần, khách xa, đều không thể bỏ lỡ dịp may hiếm có trong năm.
Người ta ví, chăm được một chậu lan quý cũng tựa như chinh phục được một cô gái đẹp. Cuộc chinh phục càng khó khăn thì chiến công càng vẻ vang, và kẻ chiến thắng càng thêm phấn khích, tự hào.
Có lẽ bởi vậy mà trong giới chơi hoa, mới nảy sinh thú vui trưng hoa, thưởng hoa, bình hoa. Để mà ở đó, người ta có dịp kể lể, tán tụng, so sánh, phẩm bình về vẻ đẹp và hương thơm của từng khóm lá, từng dò hoa. Xưa nay, trong muôn loài hoa cảnh, chỉ có hoa lan, thứ hoa "vương giả chi hương" mới xứng đáng được chủ hoa mở tiệc đón mừng, khao đãi. Thành ngữ "bữa tiệc thưởng hoa" ra đời từ đó cũng nên.
Thực ra, cái đáng quý nhất ở các loài địa lan chính là hương thơm của chúng. Tự xưa, đối với dân các nước Á Đông thì ngay cả trong các khái niệm thuộc về mỹ cảm, cũng nặng chất duy lý. Tuy hướng đến sự toàn bích, tận thiện, toàn mỹ, song nếu xét nét riêng, thì cái sắc cái hình vẫn không thể sánh nổi cái thanh, cái hương.
Bởi thế, tuy hoa trà, hoa mẫu đơn được bầu là chúa các loài hoa mà các bậc tiền nhân, vẫn coi chúng là những thứ hữu sắc vô hương, chẳng coi trọng tôn thờ như đối với các loài hoa mang hương thơm như thuy tiên, địa lan.
Tuy mỗi giống địa lan đều có hương thơm đặc trưng riêng khó lẫn, nhưng tựu trung hương thơm của hoa lan rất dịu dàng và thanh tao, nhẹ nhõm và tinh khiết. Lại nói, trong cuốn truyện vang bóng một thời, nhà văn Nguyễn Tuân đã từng miêu tả sự tinh tế đến mức quá kỳ cầu, sự sang trọng đến mức quá cao xa của thú chơi hoa lan, nhất là khi các bậc tiền nhân tố chức một bữa tiệc thưởng hoa.
Chờ khi trong vườn có đôi dò lan hé nở, nhà chủ thường lấy mươi tờ giấy tốt, làm khung nứa mỏng, nương theo chiều cao của ngọn hoa mà phất đôi ba chiếc lồng bàn nhẹ. Thế rồi dâu gai trong nhà phải rửa sạch từng viên đá cuội trắng tròn, đem tẩm kẹo mạch nha nấu từ mầm lúa nếp, xếp vào những đĩa nhỏ, bầy quanh gốc lan, đậy lồng bàn cho kín. Sau một ngày đêm ủ hương lan như thế, nhà chủ mới mở tiệc trà hay rượu, mời đôi ba người bạn tri âm tri kỉ đến thưởng hoa, và ngâm vịnh thơ phú, bình luận văn chương.
Chao ôi! Cái thú chơi cao sang đến vậy, thì làm sao có thể tồn tại nổi trong mấy mươi năm chiến tranh giặc giã, Tây Tàu nhộn nhạo, mới cũ bất phân. Nhà văn kiêm dịch giả Nguyễn Hà, cộng tác viên thân tín mảng văn hóa Hà Nội cho các báo đài thủ đô có lúc rất ngậm ngùi:
- Mấy chục năm chiến tranh bao cấp Hà Nội khổ quá. Người dân lo ăn chả đủ nói gì đến thú chơi. Bao nhiêu thứ hoa cảnh, chim chóc cứ lay lắt rồi tàn lụi mất mát dần. Tiếc sao mà tiếc! Dẫu bây giờ có khôi phục lại cũng sẽ chuệch choạc lắm. Vì các cụ cao niên tinh sành đã theo nhau trước sau đi xa hết. Sách vở thì chả có mà dẫn truyền.
Vậy mà chỉ chừng sau mươi năm khi chiến tranh kết thúc, non sông thống nhất cuộc sống trở lại thanh bình no ấm, thì theo đó, thú chơi hoa lan cũng như thú chơi hoa cảnh chim cá quý hiếm như thủỷ tiên, trà hoa, hoạ mi, chim yến, đã phục hồi một cách nhanh chóng.
Gần đây, giới yêu hoa ở Hà Nội gồm các bậc văn nhân, trí giả, nghệ nhân cây cảnh, các bậc cao niền và cả những người trẻ tuổi, đã dần dần nhóm họp thành những hội chơi nhỏ. Họ thường đi lại thăm thú vườn tược hoa cảnh lẫn nhau, bàn bạc hỏi nhau cách thức chọn giống, chăm sóc phòng bệnh cho hoa, tìm tòi sưu tập thêm những giống hoa lan quý hiếm, mới lạ. Và họ coi đó là niềm vui đích thực, là những khoảng thư giãn cần thiết, là sự dinh dưỡng tinh thần hữu ích trong cuộc sống còn bộn bề lo âu vất vả hôm nay.
Gia đình ông bà Chi - Thái ở làng Định Công, quận Hoàng Mai cứ mỗi mùa hoa nở lại mở tiệc khao đãi đôi lần. Khách gần khách xa nườm nượp kéo đến. Văn nhân, nghệ sĩ, thương gia đều hiện diện.
Có các cụ cao niên trên phố cổ, lại thêm các chàng thanh niên nông dân mới vào nghề trồng lan. Xem hoa, ngắm lá, thưởng hương, trầm trồ, bàn luận sôi nổi. Cụ Đặng Trường Lâm tuổi ngoại bẩy mươi, nhà ở phố Nguyễn Trường Tộ, râu tóc bạc trắng nhưng đôi mắt vẫn rất tinh anh, giọng nói sang sảng:
- Trên phố bây giờ làm gì ai có nổi khu vườn lan trà rộng lớn như thế này. Cũng khó ai sưu tập đủ hầu hết các giống địa lan cổ như nhà ông Chi đây. Tôi thích nhất chậu lan Hoàng điểm này. Hoa như gấm thêu, lá xanh toàn bích không một nốt đen vết xước nào. Hoa này còn chơi hằng tháng nữa cũng chưa tàn.
Ông Nguyễn Văn Hùng, kỹ sư trồng trọt của sở nông nghiệp Hà Nội cùng mấy cậu thanh niên trẻ xúm xít quanh khóm lan Ngân biên trổ hoa nâu phớt ánh vàng thâm trầm, quý phái:
- Quanh năm ông bà Chi - Thái chăm chút, bón tưới, phòng bệnh rất vất vả. Nhưng khi hoa nở khắp vườn lại mời gọi anh em đến thưởng lan, chia vui. Mọi người học thêm được ở ông bà nhiều kinh nghiệm nhân giống, chăm sóc, đánh giá lan rất quý giá. Chậu Ngân biên này chẳng hạn, hiếm lắm đấy, lá nó xanh trong lòng mà viền hai viền trắng hai bên, rất điệu đà.
Nghệ nhân Nguyễn Luân, một trong ba nghệ nhân địa lan giống cổ tại làng Nghi Tàm ở tuổi ngoại tám mươi vẫn lưu giữ bên hiên nhà mấy khóm lan quý Hoàng Vũ, Thanh Trường, Mạc Biên:
- Tôi chỉ chơi lan giống cổ truyền, tự nhân giống, tự chăm bón.
Nhưng tôi già yếu rồi nên cũng chả có sức được như xưa. Mươi năm nay bên Trung Quốc người ta mang giống lan của mình về bên ấy nhân ra trong phòng thí nghiệm rồi đem trở về Việt Nam bán nhiều lắm, giá rất rẻ. Nhưng lan đó hoa mảnh, sắc nhạt mà mùi hương lại nhạt nhòa, chỉ chơi được một mùa rồi tàn lụi dẫn. Sao bằng hoa bên ta được.
Vườn lan của nhà anh Nguyễn Vinh Dũng ở làng Nhật Tân cũng là một địa điểm đầy sức thu hút giới chơi lan ở Hà Nội và cả các tỉnh ngoài Bắc, trong Nam. Anh chị có một lối chơi lan rất cao ngạo. Nếu không gặp được khách mua đúng ý, không đáng chỗ trao gửi những đứa con yêu dấu, anh chị Dũng thà để lại vườn, mỗi tuần cắt vài chục giò trưng trong chiếc bình lớn, khiến không gian trong nhà ngoài vườn đều thơm nức như trong động tiên.
Một người cùng thế hệ chơi lan với anh Dũng Nhật Tân, thế hệ ngõ hầu có thể tiếp nối thế hệ chơi lan lão niên của Hà Nội như cụ Ninh, cụ Bội, cụ Luân, ông Chi, đó chính là vua lan Trần Tuấn Anh ở Đình Thôn, Nam Từ Liêm. Trong khuôn viên vườn lan rộng hàng nghìn thước vuông mát rượi luôn đan cài hai ba tầng hoa cao thấp. Hàng nghìn khóm phong lan, địa lan, thạch lan mùa nào cũng ngập tràn màu sắc. Ban đầu khi bước chân vào thú chơi lan,
Tuấn Anh nghiêng về phong lan, thạch lan. Trong đó có tổi 5 loại lan mà anh kỳ công sưu tập từ các miền rừng sâu núi thẳm khắp đất nước và đã được các nhà nghiên cứu lan trên thế giới đặt tên là Lan Tuấn Anh. Sau dần, qua thời gian, các giống hoa địa lan giống cổ Hà Nội vừa khiêm nhường vừa kiêu hãnh cũng đã chinh phục Tuấn Anh từ vẻ đẹp thanh tao và hương thơm huyền diệu của chúng. Hơn thế, thú chơi địa lan giống cổ còn chinh phục Trần Tuấn Anh bằng ý nghĩa tinh thần cao sang lịch lãm của văn hóa cổ truyền người kinh kỳ Thăng Long Hà Nội.
Đã lâu lắm rồi, kể từ thời đi thăm vườn lan của nghệ nhân Lê Quyết Bội trên Nghi Tàm từ vài mươi năm trước cho đến gần đây, tôi mới được gặp lại một vài cụm lan Thanh Ngọc vô cùng quý hiếm tại vườn lan Trần Tuấn Anh. Anh đang cùng những người bạn cộng sự đêm ngày cần mẫn nhân lên giống địa lan quý hiếm ấy. Tuy nhiên không phải qua vài ba năm mà đã được như ý. Mặc dù giá mỗi nhánh lan thanh ngọc trên thị trường hiện nay lên đến vài ba triệu đồng thì các chủ hoa cũng chả thể làm sao cho nó phát triển nhanh như các loại lan nhân giống trong phòng thí nghiệm để trở thành lan thương mại đại trà trên thị trường. Cái khó và cái quý lại là ở chỗ chậm chạp khác thường của địa lan giống cổ.
Tuấn Anh mê lan đến thành giai thoại trong làng hoa. Mê đến nỗi lấy cô vợ nào thì cô vợ ấy cũng đều mà bỏ đi vì không chịu nồi cảnh anh chồng chăm lan hơn chăm vợ, yêu lan hơn yêu vợ. Tam tứ phen rồi đó chứ không phải ít. Muốn truyền đam mê hoa lan cho các con mà chúng lại thờ ơ, bỏ bễ. Đứa sang Mỹ sinh sống đã đành, đứa ở lại Việt Nam cũng thế nốt. Rốt cuộc là chỉ còn có mình Tuấn Anh ở lại giữa vườn lan với những người giúp việc xa lạ và một bầy chó dễ đến vài chục con ngày đêm sủa nhăng nhẳng canh vườn lan quý. Vườn lan Tuấn Anh thuê đất tại Đình Thôn, Nam Từ Liêm đã mấy chục năm nay, nhưng sang năm Tân Sửu 2021 sắp bị chủ đất bắt di dời để lấy đất xây nhà. Vua lan muốn có một khoảnh đất riêng ở ngoại thành để lập vườn lan mới, nhưng chả có cấp thẩm quyền nào chịu chứng nhận cho anh là đang sản xuất nông nghiệp để bán đất quy hoạch trang trại cho. Thế mới khó thay! Tuấn Anh ngậm ngùi lắm:
- Các cụ cao niên làng lan xứ Bắc đã đi xa gần hết. Đến thế hệ tôi thì chỉ có một vài người. Khá là đơn độc. Các bạn trẻ tham gia thú chơi lan hiện nay cũng đông đúc, giỏi giang lắm. Nhưng đa phần các cậu ấy chỉ quan tâm đến việc kinh doanh kiếm lợi với những giống lan thời thượng chiều đãi thị hiếu đám đông, chứ không mấy ai mặn mà với việc sưu tập, bảo tồn, phục tráng các giống lan cổ truyền của cha ông. Đó là sự thực.
Lâu nay, nếu như giới chơi phong lan đang bị cuốn hút vào những dòng lan đột biến giá tiền bạc tỷ thì giới chơi địa lan lại đang bị hấp dẫn bởi những dòng lan kiếm (dòng lan lá to hình giống chiếc kiếm) mới sưu tầm được tại những vùng rừng sâu núi thăm của Việt Nam và các nước Đông Nam châu Á.
Trước nhu cầu thị trường địa lan càng phát triển, mở rộng, các nhà khoa học đầu ngành trồng trọt ở nước ta cũng chẳng thể thờ ơ, nếu như không nói rằng, nhu cầu đó cũng tạo lập một cơ hội tốt cho họ thể hiện sự tinh nhạy và tài năng chuyên môn. Bắt đầu từ năm 1997, Trung tâm Hoa cây cảnh thuộc Viện di truyền nông nghiệp Việt Nam đã tiến hành đề tài khoa học nghiên cứu phát triển các loài hoa địa lan thơm Hà Nội. Chị Phạm Thị Liên là người được giao chuyên nghiên cứu về đề tài nhân giống vô tính trong phòng thí nghiệm để đưa ra trồng đại trà các giống lan quý cổ truyền dân tộc. Đó chính là đề tài bảo vệ luận án tiến sĩ của chị hoàn thành tốt đẹp vào năm chuyển giao thế kỷ, năm 2000. Tuy nhiên, đề án cũng chỉ dừng ở một vài giống lan thông dụng như lan
Hạc đính, lan Trần mộng chứ chưa đạt số lượng như mong muốn với những giống lan quý hiếm của cha ông.
Kể thêm hầu quý vị một câu chuyện nhỏ. Tôi vốn gắn bó với làng trẻ mồ côi SOS Hà Nội tại Mai Dịch từ khi làng trẻ mới hình thành vào đầu thập niên cuối cùng của thế kỷ trước, thấm thoắt đã hơn ba mươi năm. Ngôi nhà Hoa Phượng trong làng trẻ là nơi tôi nhận đỡ đầu một cháu nhỏ mồ côi cho nên với tôi là thân thiết nhất. Người mẹ của nhà Hoa Phượng tên là Ngô Thị Sinh. Mẹ Sinh sinh năm Ất Mão 1975. Chị cũng như tất thảy các bà mẹ SOS, đều là những người phụ nữ tình nguyện không xây dựng hạnh phúc lứa đôi để trọn đời cống hiến cho sự nghiệp nuôi dưỡng trẻ mồ côi cơ nhỡ. Mẹ Sinh không chỉ nuôi dạy các con rất khéo léo mà còn có tài trồng rau quả cho các con ăn hằng ngày và chăm hoa cảnh trang trí khuôn viên quanh năm rất giỏi. Tại mặt trước ngôi nhà Hoa Phượng, mẹ Sinh trồng đầy phong lan, địa lan. Mùa xuân đến, hoa nở rạng rỡ, hương thơm ngào ngạt. Nói thì bảo buồn cười, nhưng trong đó tôi rất thích mấy khóm địa lan vào hạng bình dân nhất, giới sành chơi lan chả bao giờ đoái hoài đến, nhưng vẫn nở hoa tím ngát, đẹp đến nao lòng, ấy là hoa Chu đinh lan. Mẹ Sinh thấy mỗi lần tôi vào làng trẻ cứ mê mẩn ra ngắm vào trông nên vồn vã:
- Chu đinh lan thường lắm chị ạ. Trồng cho đẹp mắt thôi. Để em gửi biếu chị mấy giò lan thơm chị chơi nhé!
- Ấy không! Chị đi suốt, có thời gian đâu mà chăm hoa. Nó lụi đi thì phí lắm em ạ. Thi thoảng chị vào chơi với mấy mẹ con và xem ngắm là vui rồi. Chăm hoa phải có tay, chứ có phải ai muốn là cũng được đâu.
Những thú chơi cổ truyền thanh lịch hào hoa cứ dần dần sống lại, chẳng cần đến một cuộc hô hào vận động rầm rộ tốn kém nào, phải chăng chúng cũng chính là những tín hiệu có giá trị đích thực từ một cuộc sống vật chất và tinh thần ngày một sung túc và hài hòa của người Hà Nội hôm nay./.
Nội dung Podcast đến đây xin được tạm dừng, thân mến chào tạm biệt quý vị!


Cho đến bây giờ, ven nội thành cũ ở Hà Nội, chỉ còn có 2 chợ còn mang chút dấu ấn xưa cũ và còn giữ lệ họp theo phiên. Đó là chợ Mơ ở phía Nam , họp vào ngày 2, ngày 7 và chợ Bưởi ở phía Tây Bắc, họp vào ngày 4, ngày 9. Tuy nhiên, từ ngày cả 2 ngôi chợ này được xây dựng thành trung tâm thương mại, thì phong vị xưa cũng mai một đi nhiều, chỉ là còn chút nét xưa rơi rớt
Chợ Bưởi một tháng sáu phiên
Vào những năm cuối của thế kỷ 20, người Hà Nội cứ mở cửa ra đường, chưa cần đi tới chợ là đã có thể cùng lúc mua được hàng trăm loại mặt hàng khác nhau, từ mớ rau con cá cho đến cả áo quần, mũ nón. Nhưng vẫn có những thứ mà hễ cần đến, thì cứ nhất định phải đợi tới 6 ngày nhất định trong tháng âm lịch, đánh một chuyến lên chơi chợ Bưởi.
![]() |
| Chợ Bưởi. |
Ông Nguyễn Văn Biên, người ở phường Dịch Vọng quận Cầu Giấy loay hoay trở đi trở lại bên mấy lồng thỏ con hồng hồng, xam xám. Vườn nhà rộng, lũ trẻ lại thích nuôi con gì là lạ, khác khác với gà vịt, ngan ngỗng, chó lợn. Vậy thì chỉ có con thỏ là hay nhất, lũ trẻ lại có thể chơi được với chúng. Nên hôm nay nhất định phải kiếm được một đôi.
Anh Hoàng Mạnh Hùng nhà ở trong khu phố cổ quận Hoàn Kiếm thì tha thẩn bên mấy hàng cây hoa cảnh, trên tay đã cầm sẵn một gốc hoa lý đỏ, thứ hoa leo giàn không rụng lá theo mùa, lại nở bông đúng vào dịp Tết Nguyên Đán cổ truyền. Thứ cây này mới xuất hiện ở Hà Nội chừng mươi năm, gây trồng hơi khó, nên các hàng rong trên phố không sẵn. Chỉ có lên chợ Bưởi đặt hàng mới có. Cây ở chợ Bưởi vừa rẻ vừa hợp ý hơn hẳn ở các hàng rong trên phố.
Cho đến bây giờ, ở Hà Nội, chỉ còn có 2 chợ còn mang dấu ấn xưa cũ và còn giữ lệ họp theo phiên. Đó là chợ Mơ ở phía Nam thành phố, họp vào ngày 2, ngày 7 và chợ Bưởi ở phía Tây Bắc thành phố họp vào ngày 4, ngày 9.
Ca dao Hà Nội cổ có câu: Chợ Bưởi một tháng sáu phiên / Ngày tư, ngày chín cho duyên đèo bòng.
Ngày xửa ngày xưa, chợ Bưởi vốn đã được định vị ở nơi đây trên đất làng Yên Thái ở bờ Tây Nam của Hồ Tây. Chợ nằm ở trung tâm của vùng Kẻ Bưởi cũ, giữa một vùng làng nghề thủ công làm giấy, dệt lụa, dệt lĩnh, nấu nha, nuôi lợn, trồng dâu...
Kẻ Bưởi gồm gần chục làng mang tên Nghĩa Đô, Trung Nha, Vạn Long, Bái Ân, Yên Thái, Võng Thị, Trích Sài, Đông Xã, Hồ Khẩu...
Chợ Bưởi nằm bên chốn hợp lưu giữa 2 con sông tự nhiên Tô Lịch và Thiên Phù, nên thuận lợi trong việc giao lưu buôn bán trên bến dưới thuyền. Chợ lại nằm kề vòng tường thành bao quanh kinh đô Thăng Long, nên dân cư tập trung qua lại khá đông đúc. Người xưa có câu, "nhất cận thị, nhị cận giang" là thế.
Đặc sản chợ Bưởi
Chợ Bưởi tự xưa vốn là nơi buôn bán hàng hoá của dân các làng nghề trong vùng. Theo các thư tịch cũ còn lại. Chợ Bưởi từng có tới 15 gian hàng bán buôn các loại giấy do dân các làng nghề Kẻ Bưởi làm ra. Đó là giấy bản của làng Yên Thái, giấy moi của làng Hồ Khẩu, giấy quỳ của làng Đông Xã, giấy xề của làng Yên Hoà. Nhưng cho đến bây giờ thì chị Ba, một người hàng giấy thật thà bộc bạch:
- Tôi là con gái làng Bưởi, bán hàng ở chợ cũng đã lâu, nhưng làng Bưởi bây giờ chẳng còn mấy nhà làm giấy, giấy này tôi phải ra chợ Đồng Xuân cất về.
Cô hàng trẻ tuổi kế bên thì nhanh nhảu:
- Giấy này không phải giấy Bưởi chị ạ, mà là giấy Bắc Ninh. Giấy Bưởi thì khổ rộng hơn và mặt mịn hơn. Nhiều người vẫn hỏi, nhưng không hiểu tại sao dân trong làng không làm nữa.
Tuy nhiên, cũng không hẳn là nghề làm giấy ở vùng này đã mất hẳn. Bằng cớ là tại chợ, ở gian hàng sắt, vẫn thấy người ta bầy bán những con dao xén giấy đặc chủng sắc như nước, hình cong cong tựa một chiếc hái lúa và một số dụng cụ chuyên dụng khác như liềm xeo giấy, thép can giấy do người làng Xuân Đỉnh ở phía Bắc Hồ Tây đem về hoặc các loại khung phơi, sọt, sề, rổ rá, thúng từ các làng Cổ Nhuế (Từ Liêm) đem xuống, hay các làng Văn Quán (Phú Xuyên), Tự Khoát (Thanh Trì) đem lên. Trong làng duy chỉ còn vài cơ sở làm giấy nhuộm màu cho các nhà làm hàng mã hay học sinh dùng làm thủ công và giấy vệ sinh các loại.
Ở chợ Bưởi, còn có các hàng nông cụ phục vụ cho bà con nông dân các vùng xung quanh. Những là cuốc cày, xén hái, mai thuổng... màu thép loáng lên xanh ngời trong ánh nắng. Song xem ra người mua cũng thưa thớt...
Chợ Bưởi trước đây còn là nơi đầu mối bán buôn các loại hàng lụa lĩnh của các làng nghề ven Hồ Tây thuộc vùng Kẻ Bưởi. Phương ngôn kẻ chợ có câu: "Lĩnh Hoa Yên Thái, đồ gốm Bát Tràng, thợ vàng Định Công, thợ đồng Ngũ Xã". Nhưng bây giờ đi cả chợ, bói cũng không ra một tấm lĩnh cổ truyền. Nghề dệt lĩnh Bưởi đã đi vào dĩ vãng từ những năm trước Cách mạng tháng 8 năm 1945. Bây giờ, khắp chợ tràn ngập vải vóc lụa là nhập từ nước ngoài về. Ngày xưa, chợ còn là nơi bán buôn các loại hàng hoá do dân trong vùng sản xuất như mạch nha An Phú, bánh kẹo Xuân Đỉnh, cốm Vòng (Dịch Vọng)... Bây giờ, những mặt hàng này cũng vẫn thấy bày bán loáng thoáng trong chợ, chưa mất hẳn bóng dáng.
Chợ Bưởi cũng còn là nơi mà bà con các vùng ven Hà Nội đem hàng nghề truyền thống đến bán buôn. Bây giờ, cứ đến ngày chợ phiên, ở phía cổng chợ lối lên xuống từ đường Hoàng Hoa Thám, người ta vẫn ngóng bóng bà bán kẹo bột làng Lủ (Thanh Trì) đầu trùm khăn mỏ quạ, răng nhuộm đen, miệng ăn trầu bỏm bẻn. Hai đầu quang gánh lỉnh kỉnh những là kẹo vừng, kẹo lạc, bỏng ngô, bỏng gạo bọc trong những tấm lá chuối khô chéo lạt rơm và lủng lẳng mấy xâu bánh men rượu như những mảnh trứng nhện trắng màu vôi bột, còn dính mươi mảnh vỏ trấu vàng ươm.
Ông hàng thừng chão Trung Văn (Từ Liêm) quần nâu áo cánh, quạt nan phành phạch ngồi giữa đám thừng sợi to nhỏ quấn vòng, tết vặn đủ các kiểu. Ông kể rằng:
- Chợ Bưởi cách đây dăm sáu chục năm trước chỉ có hai cầu chợ ngói. Còn thì đều là lều lán tạm. Còn sau hoà bình lập lại 1954 mới làm lại tất cả bốn năm cầu chợ. Cây bóng mát cũng mới trồng từ dạo ấy. Ngày xưa, tôi bán toàn thừng giang, thừng tre, thừng nứa, thừng đay, thừng gai... Nhưng bây giờ làng tôi làm cả thừng ni lông, thừng nhựa, vô khối!
Chợ Bưởi, theo tên gọi dân gian lâu đời vốn là chợ bán hoa quả, chủ yếu là hoa quả các làng trong vùng. Phương ngôn kẻ chợ có câu: Chợ Bưởi một tháng sáu phiên / Riêng đến tháng tám lại thêm phiên rằm / Ai ơi nhớ lấy kẻo lầm / Đi mua hoa quả chơi rằm trung thu.
Nhưng mà chợ Bưởi bây giờ, không chỉ có hồng, na, bưởi, chuối, nhãn, mà còn có đủ thức hoa quả trăm miền trên đất nước và cả hoa quả từ nước ngoài đem về như táo Mỹ, xoài Thái, mận Úc... và cơ man nào là hàng hoa quả Trung Quốc, cứ vàng tím, đỏ xanh khắp các dãy hàng. Và rồi thì ngay cả đến tivi, cát sét, máy vi tính cũng đầy rẫy, sáng choang.
Ở chợ Bưởi, người ta có thể lựa mua được những thứ rau quả tươi ngon còn thấm đẫm sương đêm mới được cất về từ những làng rau chuyên canh ven sông Tô và sông Nhuệ, hay kể cả các loại rau quả đặc sản của các vùng trên đất nước. Và cũng ở chợ Bưởi, các loại cá tôm tươi rói như thể vừa được cất lưới từ mặt nước Hồ Tây hay đưa từ các lồng cá trên sông Nhuệ, các thuyền cá trên sông Hồng đem về.
Những mặt hàng tươi sống ở chợ Bưởi hình như có rẻ hơn ở các chợ trong trung tâm thành phố chừng vài ba giá. Có lẽ do bà con nông dân lên đây đỡ được một vài đoạn đường xa, và thuế má ở chợ nghe chừng cũng có nhẹ nhàng hơn.
Chợ Bưởi - Chợ cây giống
Một trong những mặt hàng đặc sắc ở chợ Bưởi là cây giống các loại từ các làng trồng hoa cây cảnh cổ truyền ven hồ Tây như Yên Phụ, Nghi Tàm, Quảng Bá, Nhật Tân hoặc các xã vùng rau hoa như Tây Tựu, Phú Thượng đem về vào các buổi chợ phiên. Số lượng các mặt hàng cây hoa giống tăng lên gấp hàng chục lần so với ngày thường. Người dân nội thành bây giờ nhà cửa khang trang hơn nhiều. Họ thường tìm lên đây tầm mua vài khóm thiên lý, lan tiêu, bìm bìm, tầm xuân, ti gôn, đai vàng. Các loại cây trồng chậu như: địa lan, thiết mộc lan, ngũ gia bì, mai tứ quý, sen cạn, vàng anh, xoan táo, đinh lăng, đuôi lươn, mỏ vịt...
Các loại cây hoa đẹp như hồng, huệ, nhài, tường vi, dâm bụt, trinh nữ, cẩm tú cầu... trăm thức khác nhau, mỗi thứ một vẻ. Thậm chí, muốn tìm mấy giống cây ăn quả, hay những cây bóng mát loại lớn, người Hà Nội cũng chỉ tìm lên chợ Bưởi. Nào là ngọc lan, hoàng lan, bằng lăng, gạo gai, phượng vĩ. Rồi các giống cây ăn quả đặc sản như hồng Xiêm Xuân Đỉnh, cam Canh, bưởi Diễn... thứ gì cũng có, song cũng tuỳ theo mùa, theo tiết, hợp với việc bán giống, trồng cây. Duy chưa thấy bao giờ chợ Bưởi bán cây giống như đào Nhật Tân hay quất Quảng Bá, mà chỉ vào dịp giáp tết, bán cây và hoa đến lứa dùng chơi tết mà thôi.
Nhưng đi chợ Bưởi mua cây cũng phải có chút kinh nghiệm. Ví như chớ ham cây rẻ khi bầu đất nơi gốc cây hoàn toàn là đất mới. Như vậy, cây dễ bị đứt rễ, đem về trồng vài hôm là héo rũ. Người sành sỏi khi mua cây, ngoài việc chọn dáng vẻ cây gốc, còn chú ý đến bầu đất gốc cây phải được người làm vườn ra ngôi sẵn từ cách đó ít hôm, hoặc trồng vào giỏ tre hay chậu đất một thời gian.
Tuy nhiên, cây cảnh, cây hoa giống ở chợ Bưởi chỉ là những loại cây thông thường, chủ yếu phục vụ nhu cầu các gia đình thị dân dễ tính. Còn muốn mua các loại cây giống, cây thế, cây hoa, cây quả quý hiếm, nhất thiết phải tìm đến tận các nhà trồng vườn chuyên nghiệp mới được xứng ý.
Bà cụ già tên là bà cụ Gái, áo cánh phin nõn, tóc bạc như tơ, tươi cười trò chuyện:
- Nhà tôi ở Nghĩa Đô, có mảnh vườn rộng, tự tay tôi trồng cấy ngải cứu, lá lốt, tía tô, dấp cá, ớt. Tất cả những cây này đến phiên chợ Bưởi là tôi đem ra bán.
Chị phụ nữ tên là Lan người làng Đăm bộc tuệch:
- Nhà em chỉ có 2 sào rưỡi đất ruộng, cấy không đủ ăn, nên quanh năm mùa nào vụ ấy, em làm thêm các loại cây giống như rau ngót, xương sông, mùi tàu, dọc mùng. Ngoài ra còn làm thêm các loại cây cảnh như tố nữ, sen cạn, lan, nhài. Mà chỉ đem đi chợ Bưởi mới có khách, đem các chợ khác không có mấy người mua. Em bán cây giống ở chợ đã 20 năm rồi.
Chợ Bưởi - chợ con giống
Một chị hàng trùm khăn vải vẩy một nắm cơm nguội lên chiếc sọt nan thưa và rộng, bầy ngan con vàng ươm kíu kíu vươn cổ lên đớp đớp. Anh lái lợn túm đôi chân con lợn tháu kêu eng éc, miệng liến láu, tay vung vẩy chỉ trỏ phô nết hay ăn chóng lớn của chú ỉn cho bà khách vấn khăn nâu, túi áo cánh găm chiếc kim băng to tướng.
Cậu bé chừng năm, sáu tuổi níu quần bố mếu máo đòi mua cả lồng mấy chú chó con lông hung hung vàng. Được đi chợ Bưởi một hôm là nguồn vui tột bậc của lũ trẻ thành phố vốn quanh năm sống trong phố xá chật hẹp, tù túng, toàn người là người.
Bà hàng gà giống, khăn kẻ vuông buộc trùm trán, giọng người trên Phùng vóng vót:
- Tôi đi chợ quanh năm, cứ mồng 2, mồng 7 chợ Mơ, mồng 4 mồng 9 lên chợ Bưởi, mồng 5 mồng 10 thì vào chợ Hà Đông, ngày 3, ngày 6 sang chợ Sa. Gà Đông Tảo nuôi nhanh lớn nhất. Mấy năm nay có thêm gà Tam Hoàng, gà Long Phượng giống Tàu, nuôi cám cò lớn nhanh lắm, với mấy giống gà Tây nữa. Nhưng dân Hà Nội vẫn chuộng gà ri ta chân nhỏ mỏ vàng, nuôi lâu lớn nhưng thơm thịt.
Một ông đặc nông dân, áo đại cán sờn khuỷu tay, khăn len kẻ xanh đỏ vắt xộc xệch trên đầu đang vạch đuôi mấy con ngan giống săm soi:
- Phải chọn giống ngan đực, ngan trâu, nuôi nó mới mau lớn, chắc thịt, dôi cân, lắm lã i. Nuôi ngan cái chỉ tổ ỉa toèn toẹt suốt ngày, bẩn cả sân lẫn vườn. Ngan đực thế nào à, xem đây! của quý rõ ràng ràng ra nhé, nhưng không phải ai cũng biết đâu.
Một tràng cười rộ lên rầm rĩ át cả tiếng quàng quạc ran ran của hàng mấy chục lồng ngan ngỗng gà vịt.
Nghe nói ngày xưa, vào phiên chợ 19 tháng chạp âm lịch hàng năm, chợ Bưởi còn có bán cả các loại đại gia súc như trâu, bò, ngựa... bây giờ thì không thấy có.
Người ta thường nói: "Đi một ngày đàng, học một sàng khôn". Nhưng mà, kỳ thực, chỉ cần đi chợ Bưởi một giờ thôi, thì có khi cũng đong đầy cả mấy túi khôn. Nào là cách chọn gà, chọn vịt, chọn chó, chọn mèo, chọn chim, chọn thỏ. Chỉ riêng có cách chọn chó thôi nhé, nghe một chốc cũng ù tai. Những là tam khoanh tứ đốm. Những là tứ túc mai hoa. Rồi lại còn tứ túc huyền đề gì gì nữa...
Ông đeo kính túm gáy con mèo tam thể nhấc bổng trước mặt thằng cu cháu. Con mèo thảng thốt kêu meo meo mấy tiếng, mình mẩy co dúm, chân sau chạm tai. Thằng cu bé hếch mắt nhìn theo không chớp. Ông nó gật gù:
- Hay chuột lắm đây, chứ chẳng đuỗn đuồn đuồn như con mướp lấm đằng kia.
Cô hàng mèo được lời như cởi tấm lòng, cười toe cười toét dang tay âu yếm đón lại chú mèo như không nỡ bán, trong lúc cu con cứ kéo áo ông mếu máo đòi mua bằng được.
Nhưng mê mấy cũng không tày phiên chợ Bưởi giáp tết. Ngồn ngộn những hoa thơm, quả lạ, chiu chít gà vịt ngỗng ngan, tươi rói lá dong, lạt màu, rộn ràng, lộng lẫy véo von hàng trăm lồng chim, chậu cá. Và đào Nhật Tân, quất Quảng Bá, hoa Tây Tựu ken thành một dòng suối hoa rực rỡ chảy tràn sang tận các ngả đường từ Lạc Long Quân đến Thuỵ Khuê, Hoàng Hoa Thám rồi xuôi về hàng trăm ngả phố Hà Nội.
Nội dung bài Podcast đến đây xin được tạm dừng, thân mến chào tạm biệt quý vị!

“Thưởng mai mùa xuân” là nhan đề bài Podcast của Nhà báo Vũ Thị Tuyết Nhung. Kính mời quỳ vị cùng lắng nghe.
Bài viết:
Sự cuốn hút của hoa mai có lẽ đã bật lên từ sự tương phản, khác biệt lạ kỳ. Giữa thân hình mảnh mai, vóc dáng gầy guộc với sương gió lạnh lùng, giá băng khắc nghiệt. Giữa vẻ yếu đuối, mềm dịu bên ngoài và sự mạnh mẽ, quyết liệt bên trong. Giữa sức chịu đựng cùng cực với thế vươn lên hết mình. Hoa mai có lẽ là biểu trưng cao nhất cho sự đối chọi, mà cũng chính là sự hòà hợp tuyệt vời giữa chữ nhẫn và chữ dũng của cốt cách, tinh thần con người, trước cuộc đời bao bất trắc, gian nan mà cũng chứa chan hy vọng và niềm vui: Chúng phương dao lạc độc huyên nghiên / Chiếm tận phong tình hướng tiểu viên.
![]() |
| Hoa mai loài hoa mang niềm vui xuân sang, tết đến - Loài hoa mang màu nắng của đất trời phương Nam |
Trăm hoa đều tàn tạ, duy chỉ có (hoa mai) hé nở, chiếm hết cảnh đẹp nơi vườn nhỏ. Đó chính là hai câu mở đầu của bài thơ thất ngôn bát cú mang tựa đề "Mai Hoa" của một nhà thơ nổi tiếng đời Tống. Nhà thơ Lâm Bô. Ông vốn là người tài trí hơn đời, nhưng ghét mùi tục luy, ghét cảnh bon chen chốn quan trường nên suốt đời chỉ ở ẩn trên núi Cô Sơn, coi mai là vợ, hạc là con. Nghệ thuật thưởng mai, không còn nghi ngờ gì, có xuất xứ chính là từ Trung Quốc. Khoảng 3000 năm trước, người ta đã nhắc tới mai, thoạt đầu như một thứ cây ăn quả trong dân gian. Sử sách Trung Quốc có ghi, vào thời Xuân Thu, ở đất Tây Chu, người dân đã biết trồng mai.
Ngôi nhà cũ kỹ của nghệ nhân Lê Quyết Bội nằm lọt trong làng hoa cổ Nghi Tàm bên sóng nước Hồ Tây. Góc hiên nhà có một cửa sổ nhỏ hình mặt trăng. Vào cứ xuân, ông thường đặt ở dưới chân tường bốn chậu cảnh quý. Đó là tùng, trúc, cúc, mai. Người xưa truyền rằng, đó là bộ cây Tứ Hữu, bốn người bạn thiết. Bởi chúng đều có sức sống mạnh mẽ, bền bỉ, như tình bạn bất chấp sự đổi thay của thế cuộc. Nhất là tùng, trúc, mai, còn được liệt vào bộ Tam Dũng, ba thứ cây có khả năng xanh tốt vượt qua sự khắc nghiệt của mùa đông giá lạnh. Mà đầu bảng vẫn là cây mai. "Tiên hưởng bách hoa đầu thượng khai" - Mai nở trước muôn hoa, đứng đầu bảng xuân. Mai được coi là biểu tượng của sự thanh cao, lòng cương trực và khí phách ngang tàng, bất khuất của các bậc chính nhân, quân tử, anh hùng, trượng phu. Nghệ thuật thưởng mai, theo thời gian, đã lan dần sang các nước phương đông, chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa.
Từ thời nhà Lý, nhà thơ Mãn Giác Thiền sư đã có một bài thơ nổi tiếng nhắc tới hoa mai. Nguyễn Trãi vị anh hùng dân tộc, đệ nhất công thần triều nhà Lê từng ca tụng: Càng thuở già, càng cốt cách. / Một phen giá, một tinh thần.
Người đời yêu kính hoa mai bởi sự kiêu dũng, hiên ngang trước mọi khó khăn, thử thách khắc nghiệt, bởi hoa mai đem lại hương thơm thanh tao và sắc đẹp tuyệt mỹ. Và hơn tất cả, hoa mang lại cho thế gian linh hồn của mùa xuân.
Mai có rất nhiều chủng loại, ở Trung Quốc, có tới 230 loại mai. Riêng về màu sắc, được chia làm ba loại chính là hồng mai, hoàng mai và bạch mai. Ở Hà Nội, chi mai là giống mai trắng điểm hồng đã được lưu truyền qua nhiều đời. Bên hồ Tây, những làng hoa cổ truyền như Nghi Tàm, Nhật Tần vốn là xứ sở của chi mai.
Chi mai hay còn được gọi là Nhị độ mai, vì mỗi năm hoa thường nở hai lần. Cuộc sống vật chất, văn hóa, tinh thần mỗi ngày trên đất Hà Nội càng thêm tươi mới, phong phú và đa dạng. Bởi vậy, ở làng đào Nhật Tân mấy năm gần đây, bên cạnh những luống đào rực rỡ, là vẻ đẹp trắng trong, dịu dàng của những vườn mai đang kỳ trổ bông.
Khác với giống đào ưa đất mới phù sa màu mỡ, giống mai không kén đất, không cần chăm bón kỹ càng. Duy nhất, mai chỉ cần được giữ ẩm vừa độ. Mai không chịu được úng ngập, úng ngập sẽ gây thối rễ mai. Mà bộ rễ là một phần vẻ đẹp chính yếu của cây mai. Công phu nhất của người trồng mai chính là tạo nên được những bộ rễ có hình dáng xù xì, gân guốc, cổ quái, ấy là cách để nhấn mạnh độ già cỗi của gốc mai. Người trồng hoa thoạt đầu trồng cả gốc mai xuống đất như các thứ cây thông thường. Chờ cho cây phát triển đến độ thích hợp theo ý nhà vườn, họ sẽ nhấc cây khỏi mặt đất và trồng lại ở độ sâu nhỏ hơn trước. Hoặc tìm cách bới đất cho rễ cây lộ thiên, rồi uốn tỉa cho thành các hình thế khác nhau. Nào Cửu long tranh châu, nào Bát tiên quá hải, nào Ngũ phúc lâm môn...
Sở dĩ người ta kỳ cầu tạo nên vẻ già cỗi cho mai, chính là vì chiều theo thị hiếu dường như là bất biến của người chơi mai tự cổ chí kim. Kỳ lạ thế, tiêu chuẩn của một cây mai đẹp thật khác xa so với muôn hoa. Có bốn tiêu chí để định giá vẻ đẹp của cây mai. Đó là người ta quý già chứ không chuộng non, quý mảnh chứ không ưa mập, quý thưa chứ không thích dày, và cuối cùng là quý nụ chứ không mong nở. Chính bởi vậy, người mê đào thì dù sớm thế nào cũng phải đợi tới qua rằm tháng chạp, mới có thể lên dinh chọn đặt cây cho tết âm lịch. Chính lúc ấy, người ta mới có thể xem nụ mà đoán hoa. Còn người yêu mai có thể lên vườn chọn mai từ dịp nhà vườn đang mùa tuốt lá, tức là từ tiết đông chí, giữa tháng mười một âm lịch. Khi ấy, cây mai đã chớm lộ vẻ đẹp của vóc dáng, hình thế. Mà vóc dáng, hình thế, đó mới chính là tinh thần, cốt cách của hoa mai.
Chốn nhân gian ngàn đời luôn vui ít buồn nhiều. Trong thập đại danh khúc cổ nhạc của Trung Hoa có tới bẩy bài mang âm hưởng buồn man mác hoặc buồn tới mức bi thiết, não nùng. Chỉ có 3 bài là có những đoạn mang âm hưởng vui vẻ, lạc quan, phấn khích. Trong đó có khúc "Mai hoa tam lộng". Có một giai thoại về
"Mai hoa tam lộng". Đó là câu chuyện về Nhân Hồng Hạo vào thời Nam Tống. Ông vốn là một người được sai đi sứ nước Kim nhưng rốt cuộc bị bắt lại mất hơn mười năm. Mười năm dài chờ đợi đằng đăng được hồi hương, mười năm sống trong sự uy hiếp rồi dụ dỗ của kẻ địch, tâm ông chẳng sợ, lòng dạ chẳng sờn, vẫn hiên ngang từ chối mọi ưu sách, ông một mực bảo trì phong thái cao thượng, coi nhẹ hư vô ở đời. Danh sĩ Cao Bá Quát, một bậc kỳ nhân quê ở làng Sủi (nay thuộc xã Phú Thụy, huyện Gia Lâm) là người tài ba, cao ngạo.
Cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương do ông lãnh đạo dù thất bại song vẫn để lại cho người đời tiếng thơm khí phách của một bậc chính nhân quân tử không chịu khuất phục trước cường quyền triều Nguyễn.
Tương truyền Cao Bá Quát đã để lại đôi câu thơ nổi tiếng: Thập tải luân giao cầu cổ kiếm / Nhất sinh đê thủ bái mai hoa. (Mười năm vất vả gian truân tìm kiếm cổ. Một đời chỉ cúi đầu bái lạy hoa mai).
Sở dĩ tôi chỉ dám viết hai chữ "tương truyền", bởi cũng có một thuyết khác cho rằng đôi câu thơ trên không phải do danh sĩ họ Cao sáng tác mà là của một nhà nho khác sống cùng thời. Nhưng dẫu sao đó vẫn là đôi câu thơ tuyệt hay về phẩm chất của người quân tử ngày xưa.
Ngẫm ngợi sâu xa thì sự cuốn hút của hoa mai có lẽ đã bật lên từ sự tương phản, khác biệt lạ kỳ. Giữa thân hình mảnh mai, vóc dáng gầy guộc với sương gió lạnh lùng, giá băng khắc nghiệt. Giữa vẻ yếu đuối, mềm dịu bên ngoài và sự mạnh mẽ, quyết liệt bên trong. Giữa sức chịu đựng cùng cực với thế vươn lên hết mình.
Hoa mai có lẽ là biểu trưng cao nhất cho sự đổi chọi, mà cũng chính là sự hòà hợp tuyệt vời giữa chữ nhẫn và chữ dũng của cốt cách, tinh thần con người, trước cuộc đời bao bất trắc, gian nan mà cũng chứa chan hy vọng và niềm vui: Cử đầu hồng nhật cận - Đối ngạn nhất chi mai. / Ngửng đầu mặt trời mọc - Bên suối một nhành mai.
Bài thơ "Thướng sơn" của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ra đời vào thời khắc cách mạng Việt Nam đang đứng trước một bước chuyển lớn lao có lẽ đã không chỉ dừng ở tầng ý nghĩa văn chương, nghệ thuật, mà hơn thế, còn mang ý nghĩa tư tưởng, nhân sinh quan cách mạng sáng đẹp tuyệt vời.
Trong dân gian, nếu như giới thương nhân và người lao động bình dân tết đến thường thích chơi đào bích với sắc hoa đỏ tươi, nụ hoa đông đúc, cánh hoa dày dặn, ý cầu mong cuộc sống sung túc, đủ đầy, rực rỡ, ấm áp, thì giới trí thức, văn nghệ sĩ thường thích đào hồng phai và hoa mai trắng muốt, hầu gửi gắm tâm hồn phong nhã, hào hoa, coi thường những ước muốn trần tục đời thường. Hoa mai vì thế, như thể để dành riêng cho giới sĩ phu, trí giả, văn nghệ sĩ nghênh đón xuân sang.
Đôi vợ chồng nghệ sĩ sân khấu Hà Nội Kim Thanh - Vinh Mậu ngay từ thời trẻ đã cùng nặng lòng yêu hoa mai. Đối với họ, hoa mai là biểu trưng cho tình yêu thanh cao và bền chặt. Đứa con gái út của đôi vợ chồng nghệ sĩ được sinh ra với cái tên chọn sẵn: Mai Chi. Sau này, anh trở thành một tác gia sân khấu chèo, khán giả Hà Nội còn nhớ tới anh với vở chèo Vòng phấn Cap - ca - dơ, còn chị trở thành một nhà giáo ở khoa kịch nói trường nghệ thuật Hà Nội. Bao gian khó và bao thăng trầm trong cuộc đời, rồi cũng đã lùi lại phía sau. Giờ đây, cả hai vợ chồng đều đã ở cái tuổi đã rời xa ánh đèn sân khấu, lặng lẽ trở lại với đời thường. Thế sự xoay vần, nghề chơi lại có lúc trở thành nghiệp sống. Một cửa hiệu hoa cảnh ra đời trên phố Hoàng Hoa Thám, đã trở thành nơi tụ hội của giới tao nhân, mặc khách Hà Thành. Anh và chị lấy tên loài hoa mà họ yêu quý nhất mà đặt tên cho cửa hiệu của nhà, hiệu hoa cảnh Nhất Chi Mai.
Bận rộn quanh năm, tuy vậy, anh và chị vẫn giữ một phong thái sinh sống và ứng xử bình hòà, giản dị và cao nhã, như chẳng hề nhuốm mùi tục luy chốn thương trường. Mỗi thời khắc xuân vê, anh chị lại cùng chăm chút cho những chậu mai, chờ người đồng điệu. Cái nghiệp chèo anh dày công đeo đuổi, trải qua mấy khúc thăng trầm, giờ đang gặp vận hội hồi sinh, dù còn là mong manh, thắc thỏm, song cũng phần nào giúp cho anh vơi nhẹ nỗi trở trăn nghề nghiệp.
Ông xã tôi vốn là dân kinh doanh và công cuộc làm ăn cũng đã trải qua lắm khúc thăng trầm, có lúc rầm rộ nổi tiếng trên thương trường, rồi có khi đã hầu như mất hết cả sản nghiệp, để lại hệ lụy vô cùng nặng nề cho gia đình, vợ con, bầu bạn. Nhưng khi thoát vòng lao lý ở tuổi ngoại ngũ tuần, anh vẫn gắng gỏi đứng dậy bắt đầu một công việc làm ăn dù nhỏ lẻ chỉ bằng một phần trăm, một phần nghìn thời trai trẻ. Cốt là để khắc phục dần những hậu quả thất bại trong những năm tháng trước đó. Ông xã tôi cũng rất thích hoa mai trắng, có lẽ bởi đã một thời vốn từng theo học hàm thụ đại học tổng hợp văn trong thời gian anh là hạ sĩ quan biên phòng đóng quân tại Hà Nội. Tôi thì rất thích tích truyện dân gian Nhị độ mai. Cô con gái út của vợ chồng tôi cũng được đặt tên Hạnh Nguyên là đặt theo tên nàng công chúa trong tích truyện ấy. Ý là mong cho con vượt qua khổ nạn gia đình đến được cuộc sống hạnh phúc tươi đẹp.
Năm nào bên cạnh quất đào vàng thắm, hồng rực trong phòng khách, vẫn là một gốc mai trắng thanh mảnh, dịu dàng. Cuối năm trước, ông xã tôi đã thanh thản về với cõi người hiền sau mấy năm trời kiên trì chống chọi với những căn bệnh hiểm nghèo. Tết đến, theo lệ cũ, tôi vẫn rước một gốc mai trắng về phòng khách và tạm bỏ thú chơi đào quất hằng niên. Gốc mai trắng năm ấy tự nhiên lại trổ hoa rạng rỡ khác thường. Một mình bên song cửa rộng mở chào đón nắng xuân, những cánh lá xanh non rung rinh bên những đóa hoa trắng tinh khôi. Thấp thoáng đan xen là những đốm nụ điểm màu hồng tươi rói.
Chợt nhớ câu thơ xưa của Mãn Giác thiền sư cách đây gần mười thế kỷ: Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận / Đình tiền tạc dạ nhất chi mai. (Chớ tưởng xuân tàn hoa rụng hết. Đêm qua sân trước một nhành mai)
Kính thưa quý vị, bài Podcast đến đây xin được tạm dừng, thân mến chào tạm biệt quý vị!

“Đôi ván cờ ngày xuân" là nhan đề bài Podcast của tác giả: Nhà báo Vũ Thị Tuyết Nhung - Nguyên trưởng ban Văn hoá - Xã hội; Đài PT-TH Hà Nội, bài viết trong cuốn sách “Hà Nội mến thương” của chính tác giả với nhiều bài viết ý nghĩa về những nét văn hoá độc đáo về mảnh đất và con người đất Kinh Kỳ. Xin mời quý vị cùng lắng nghe.
Bài viết:
Tự ngàn năm xưa, cầm kỳ thi hoạ, vốn là bốn thú chơi tao nhã của người Á Đông. Có nhiều người ngờ rằng, câu chuyện cuộc cờ tiên vỗn là không có thực. Mà cái có thực, hình như là sự thoát tục, cao siêu của một thú chơi đẹp đẽ và tao nhã trong chốn nhân gian. Theo các nhà nghiên cứu văn hóa, thì cờ tướng du nhập vào nước ta muộn nhất là vào thời Bắc thuộc, cách đây trên ngàn năm. Đó là một thú chơi văn hóa, hay là một môn thể thao trí tuệ, hay là tổng hòa cả hai, người ta thường không mấy phân tách rạch ròi.
![]() |
| Cuốn sách "Hà Nội mến thương". |
Thoạt nhìn, khó ai đã đoán đúng tuổi của cụ ông Nguyễn Đắc Dần nhà ở phố Hoàng Hoa Thám, đoạn gần chợ Bưởi. Râu tóc bạc như tơ, nhưng dáng người quắc thước, nước da đỏ au đi đứng nhanh nhẹn, đường hoàng, vững chãi, nói năng vui vẻ, hài hước, cụ vốn chỉ là một viên chức bình thường của ngành đường sắt về nghỉ hưu từ mấy chục năm nay. Con cái đã phương trưởng, đàng hoàng, mỗi người mỗi cơ, mỗi ngũ, hàng ngày cụ thong dong tận hưởng những thú vui tuổi già mà cụ hằng ưa thích. Nhất là thể dục dưỡng sinh và võ dân tộc. Nhì là chơi hoa cây cảnh và ba là thú đánh cờ. Chiều cụ, anh con trai út tuổi Đinh Dậu những lúc rảnh việc thường hầu cờ cùng cha vài ba ván. Khi cao hứng, cụ thường kể cho con những giai thoại xung quanh thú chơi cờ. Ai được nhìn thấy cụ ngồi đánh cờ bên chiếc bàn gỗ lên nước sẵm bóng, cạnh chậu lan mặc biên thơm một làn hương dịu ngọt, sẽ có thể ngỡ mình đang được xem một cuộc cờ tiên. Cụ Nguyễn Đắc Dân luôn lưu giữ bên mình một cuốn sổ tay cũ kỹ, nhiều trang đã ở vàng, không biết đã có từ bao năm rồi. Trong đó cụ ghi chép những thế cờ độc đáo. Đặc biệt, có một thế cờ mà cụ tâm đắc mãi, không chỉ vì cái hay thông thường của một nước cờ cao mà còn hơn thế. Đó chính là nước cờ do cụ chủ tịch nước Hồ Chí Minh sáng tác và đựợc in trên báo Lao Động năm 1966. Cụ Dẫn đã từng lấy nước cờ này đem đố rất nhiều bậc đại cao thủ làng cờ Hà Nội, mà chưa ai giải nỗi. Ngay như cụ Dần, cũng chỉ giải nồi theo bài dẫn đăng kèm trên số báo sau.
Khi chén rượu, khi cuộc cờ.
Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên
Tự ngàn năm xưa, cầm kỳ thi hoạ, vốn là bốn thú chơi tao nhã của người Á Đông. Có nhiều người ngờ rằng, câu chuyện cuộc cờ tiên vốn là không có thực. Mà cái có thực, hình như là sự thoát tục, cao siêu của một thú chơi đẹp đẽ và tao nhã trong chốn nhân gian.
Theo các nhà nghiên cứu văn hoa, thì cờ tướng du nhập vào nước ta muộn nhất là vào thời Bắc thuộc, cách đây trên ngàn năm. Đó là một thú chơi văn hoá, hay là một môn thể thao trí tuệ, hay là tổng hòà cả hai, người ta thường không mấy phân tách rạch ròi. Nhất là khi đã vào cuộc cờ, lại trong một khung cảnh thiên nhiên xinh đẹp, hữu tình cùng những người bạn thân thiết. Khi hương xuân, vị tết tràn ngập không gian, người ta có thể dành thời gian tận hưởng đôi ba niềm vui vì thành quả của một năm trời vất vả trong cuộc mưu sinh vốn không ít những lo lắng, ưu phiền khó tránh. Niềm vui ấy sẽ càng được nhân lên trong những cuộc cờ người ở hội làng.
Cách đây gần sáu mươi năm, có một chàng trai Hà thành say mê cờ tướng vào hạng nhất. Chàng trai Nguyễn Tấn Thọ từng ba năm liền đoạt giải cờ chùa Vua, một giải cờ dân gian danh tiếng nhất xứ Bắc và được khắc tên trên tấm bia đá của chùa. Hội cờ chùa Vua mở vào ngày mồng 6 tháng Giêng năm mới. Tương truyền, vào thời Lê cách đây trên năm trăm năm, có một vị hoàng tử con vua nổi tiếng mê cờ. Ngài đã cho dựng một ngôi chùa trên đất làng Thịnh Yên phía nam kinh thành Thăng Long để thờ vị vua cờ huyền thoại Đế Thích và lập sân đấu cờ trước sân chùa cho dân chúng vui xuân. Cho tới bây giờ, vua cờ Nguyễn Tấn Thọ vẫn được giới danh thủ đất Hà Nội tôn vinh là bậc cao cờ hạng nhất. Đã từ nhiều năm nay, vào ba tháng mùa xuân, hiếm ai có thể tìm thấy ông tại nhà. Ông thường được hàng trăm làng xã ở khắp vùng đồng bằng, trung du Bắc bộ mời gọi làm cố vấn cho các hội cờ xuân thôn quê. Hào hưng với việc khôi phục lại một nét đẹp của mùa xuân xứ Bắc, vua cờ Nguyễn Tấn Thọ hầu như không nghĩ mình đã ở tuổi ngót bát tuần. Nhưng cái tinh thần của cờ tướng trong thời kỳ mới, ông hầu như thấu hiểu tới tận cùng.
Hà Nội còn có một bậc kỳ thủ cao niên rất nồi danh là vua cờ Lê Uy Vệ, cụ từng là phó chủ tịch Liên đoàn cờ Việt Nam. Dù nghỉ hưu đã mấy chục năm song giới kỳ thủ đất Bắc vẫn tôn vinh cụ là người có chuyên môn xuất sắc và có những nước cờ rất hào hoa, thoáng đạt. Ngắm lão vương Lê Uy Vệ diện áo gấm đỏ, đội khăn xếp đỏ, gương mặt hồng hào, đôi mắt tinh anh, ai đó đều mong ước cụ sống sống lâu trăm tuổi và mỗi dịp hội cờ chùa Vua mùa xuân, cụ lại hiện diện như một biểu tượng tuyệt đẹp của thú chơi cao nhã cổ truyền dân tộc.
Mùa xuân năm ấy, ở độ tuổi ngót tám mươi, nhà nghiên cứu văn hóa phương đông Ngô Linh Ngọc vẫn được người Hà Nội tôn vinh là người toàn tài cầm kỳ thi họa trong giới trí giả ở Việt Nam. Riêng đối với cờ, ông từng là người sáng lập ra hội cờ Thuyền Quang vào năm 1936, năm mở đầu phong trào mặt trận dân chủ Đông Dương ở Việt Nam, với rất nhiều hoạt động nhằm tôn vinh và phục hồi những nét đẹp trong nền văn hóa dân tộc. Trong tủ sách gia đình, có hai cuốn sách mà ông yêu quý nhất. Đó là cuốn
Trung Quốc tượng kỳ từ điển, và Tượng kỳ toàn thư. Hai cuốn sách dây cộp, có các thế cờ minh hoa cho cách dánh, có chú thích, có diễn giải một cách sáng sửa, rõ ràng. Ong Ngọc khi trò truyện với chúng tôi cứ ao ước hoài rằng chừng nào Việt Nam có được đôi ba cuốn sách như vậy thì bộ môn văn hóá thể thao cờ tướng sẽ có cơ phát triển mạnh mẽ hơn.
Vài mươi năm trước, với bút danh Kỳ Hữu, ông đã là một cây bút hàng đầu của tạp chí Người chơi cờ Việt Nam. Ông từng sưu tâm và cải biên hàng trăm thế cờ nổi tiếng của phương đông để giới thiệu với làng cờ tướng Việt Nam, góp phần không nhỏ cho phong trào cờ tướng của Hà Nội. Tuy nhiên, có một công trình nghiên cứu mà ông đang say mê theo đuổi, đó là việc sưu tẩm, các áng văn thơ cổ kim về để tài cờ tướng. Nhất là các bài thơ cờ của các bậc vua chúa ngày xưa và các vị lãnh tụ thời nay. Nào thơ của Hán Vũ Đế, thơ của Đường Thái Tông bên Trung quốc, thơ của Lê Thánh Tông, thơ của Hồ Chủ tịch ở Việt Nam. Nếu ai đó có cùng sở thích, xin hãy tìm đến ngôi nhà nhỏ của nhà thơ Ngô Linh Ngọc ở Khu tập thể Trường Đại học Bách khoa. Được hầu chuyện một người như ông, hẳn là ta có thể quên thời quên khắc.
Nhưng mà người Á Đông từng truyền tụng nhau câu danh ngôn cổ: "Rạp dẫu có dựng dài ngàn dặm, buổi tiệc nào là buổi tiệc không tan". Bất cứ một niềm đam mê nào cũng bao hàm một sự thái quá. Mà không phải sự thái quá nào cũng có thể được xã hội chấp nhận. Trong kho tàng sưu tầm của nhà nghiên cứu văn hóa Ngô Linh Ngọc, có một chỉ dụ của vị Hoàng Đế họ Đinh nước Việt cách đây gần 10 thế kỷ về việc ra hình phạt với người quá ham mê đánh cờ mà bỏ bễ việc công. Cụ còn nhắc đến bài hịch tướng sĩ của Hưng đạo Vương Trần Quốc Tuấn với lời nhắc nhở phê bình quản sĩ chớ ham cờ tướng, chớ ham đá gà, chó ham đàn hát mà lơ là việc quân.
Tiến sĩ Nguyễn Viết Chức có một thời từng đảm đương vị thế quan chức đầu ngành của sở văn hóa thông tin Hà Nội. Cơ quan của ông đóng tại bờ hồ Gươm. Mỗi khi kết thúc giờ làm việc, ông thường quá bộ sang đường, tìm vào câu lạc bộ cờ Ngọc Sơn, nơi ông là hội viên không chính thức từ hàng chục năm nay. Cởi chiếc áo khoác, đặt chiếc máy điện thoại di động trước mặt, thế là ông chủ mục vào bản cờ với hai bên quân xanh, quân đỏ. Bạn cờ của ông có nhiều người là quan chức trong ngành tư tưởng văn hóa của trung ương và Hà Nội. Nhiều vị đã nghỉ hưu song không ít vị còn đương chức. Hôm ấy tôi trông thấy cả nhà thơ Vũ Duy Thông, vụ trưởng vụ báo chí của Ban văn hóá tư tưởng Trung ương và một vài nhân vật quen thuộc trong chính làng báo của chúng ta. Họ tìm đến cờ tướng để giải trí hay là để rèn luyện, hay là cả hai. Trong cương vị hiện thời, ông có thể nói gì đây về một thú vui chưa dễ được hiểu, được quan niệm một cách thuần nhất.
Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Nhưng ở độ tuổi của cụ ông Nguyễn Đắc Dần, tuổi ngót chín mươi thì một năm 365 ngày đều có thể coi là những ngày xuân, xuân bất tận và vui bất tận. Có thể lắm chứ, bởi ván cờ chính của cuộc đời, cụ đã hoàn thành trên mọi phương diện, tuy chẳng vẻ vang cao xa, nhưng cũng đủ để cháu con nể trọng, mến yêu. Hôm nay, vừa rời cuộc biểu diễn võ dân tộc ở câu lạc bộ người cao tuổi quận Cầu Giấy, cụ ông Nguyễn Đắc Dần lại cầm chiếc bình tưới cho mấy chậu địa lan trước khi thong thả ngồi vào bàn cờ tướng.
Nếu ai đó có lòng đến thăm cụ ở cửa hàng hoa cảnh Nhất Chi Mai, xin hãy nhớ đừng chúc cụ sống lâu trăm tuổi. Bởi cụ sẽ không bằng lòng đâu. Cụ vẫn nói rằng cụ còn có thể sống lâu hơn thế nữa kia. Hãy chờ mà xem. Ván cờ hay nhất của cụ còn đang ở phía trước.
Nội dung bài Podcast đến đây xin được tạm dừng. Thân mến chào tạm biệt quý vị!


