
Tin nóng:
Trong hành trình xây dựng thương hiệu, Công ty CP Quế hồi Việt Nam (Vinasamex) lựa chọn bắt đầu từ vùng nguyên liệu, liên kết với người dân các địa phương miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số tại Lào Cai, Thái Nguyên, Lạng Sơn… chuẩn hóa quy trình sản xuất và đầu tư chế biến sâu. Trong cuộc trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, bà Nguyễn Thị Huyền, Tổng Giám đốc Công ty CP Quế hồi Việt Nam (Vinasamex) nhấn mạnh, để một sản phẩm trở thành Thương hiệu quốc gia, chất lượng không thể chỉ được tạo ra ở khâu cuối cùng mà phải được hình thành xuyên suốt chuỗi giá trị.

Bà Nguyễn Thị Huyền, Tổng Giám đốc Công ty CP Quế hồi Việt Nam (Vinasamex)
Từ vùng nguyên liệu đến thương hiệu quốc tế
- Vinasamex hiện phát triển vùng nguyên liệu và các sản phẩm quế, hồi hữu cơ tại các vùng miền núi, vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời xây dựng chuỗi liên kết với người dân và đáp ứng nhiều tiêu chuẩn quốc tế. Từ thực tiễn xây dựng chuỗi giá trị này, bà cho rằng đâu là những yếu tố quan trọng giúp sản phẩm của Vinasamex đáp ứng các yêu cầu để được công nhận Thương hiệu quốc gia Việt Nam năm 2026?
Bà Nguyễn Thị Huyền: Theo tôi, một sản phẩm muốn trở thành Thương hiệu quốc gia thì không thể chỉ “tốt ở khâu cuối cùng”. Chất lượng phải được hình thành từ vùng nguyên liệu, người nông dân, phương thức canh tác, quy trình chế biến cho tới trách nhiệm của doanh nghiệp đối với cộng đồng và thị trường.
Với Vinasamex, chúng tôi lựa chọn xây dựng chuỗi giá trị ngay từ gốc. Thay vì chỉ thu mua nguyên liệu, doanh nghiệp trực tiếp tổ chức vùng trồng, đào tạo người dân, kiểm soát quy trình canh tác, truy xuất nguồn gốc và từng bước đưa các tiêu chuẩn quốc tế vào vùng nguyên liệu quế, hồi tại miền núi.
Điểm quan trọng thứ hai là tiêu chuẩn hóa. Khi bước vào các thị trường khó tính, doanh nghiệp không thể chỉ nói rằng sản phẩm của mình tốt, mà phải chứng minh được bằng hệ thống quản lý, chứng nhận, kiểm nghiệm và khả năng truy xuất. Đây là lý do Vinasamex đầu tư lâu dài vào các tiêu chuẩn hữu cơ và hệ thống quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm theo yêu cầu quốc tế.
Điểm thứ ba là chế biến sâu. Tôi cho rằng nếu Việt Nam tiếp tục xuất khẩu quế, hồi chủ yếu dưới dạng nguyên liệu thô thì phần giá trị chúng ta giữ lại sẽ vẫn rất hạn chế. Vì vậy, Vinasamex đang dịch chuyển từ doanh nghiệp xuất khẩu gia vị sang doanh nghiệp chế biến sâu các nguyên liệu tự nhiên, phát triển từ quế, hồi thô sang bột, tinh dầu, dịch chiết và các hợp chất tự nhiên có giá trị cao hơn.
Và cuối cùng là giá trị xã hội. Vinasamex phát triển trong những vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, nên với chúng tôi, tăng trưởng của doanh nghiệp phải song hành với việc cải thiện sinh kế cho người dân.
Tôi nghĩ đây chính là nền tảng quan trọng giúp Vinasamex đáp ứng tinh thần của Thương hiệu quốc gia: không chỉ tạo ra một sản phẩm tốt, mà xây dựng một thương hiệu Việt Nam có chất lượng, có trách nhiệm và có khả năng cạnh tranh dài hạn trên thị trường quốc tế.

Nhà máy của Vinasamex tại khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa
Chất lượng, đổi mới và năng lực tiên phong tạo khác biệt
- Thương hiệu quốc gia Việt Nam năm 2026 được xây dựng trên ba nhóm tiêu chí Chất lượng – Đổi mới sáng tạo – Năng lực tiên phong. Đâu là yếu tố doanh nghiệp cho rằng tạo nên sự khác biệt và sức cạnh tranh của sản phẩm Vinasamex trên thị trường?
Bà Nguyễn Thị Huyền: Tôi nhìn ba tiêu chí Chất lượng – Đổi mới sáng tạo – Năng lực tiên phong không phải là ba khái niệm tách rời, mà là ba tầng tạo nên năng lực cạnh tranh của Vinasamex.
Chất lượng đối với chúng tôi bắt đầu từ vùng trồng. Nếu nguyên liệu đầu vào không được kiểm soát tốt thì nhà máy hiện đại đến đâu cũng rất khó tạo ra sản phẩm ổn định. Vì vậy, Vinasamex đầu tư vào vùng nguyên liệu, quy trình canh tác, kiểm soát thu hái, sơ chế, tồn dư, vi sinh, truy xuất nguồn gốc và quản lý chất lượng xuyên suốt chuỗi cung ứng.
Đổi mới sáng tạo nằm ở việc chúng tôi thay đổi cách nhìn về cây quế và cây hồi. Chúng tôi không coi đây chỉ là hai loại gia vị để bán theo kilogram. Mỗi cây quế, cây hồi là một nguồn nguyên liệu tự nhiên có thể tạo ra nhiều tầng giá trị khác nhau: gia vị, tinh dầu, dịch chiết, hoạt chất và các hợp chất tự nhiên phục vụ thực phẩm, mỹ phẩm, dược phẩm và nhiều ngành công nghiệp khác.
Đó cũng là lý do Vinasamex đầu tư mạnh vào công nghệ chế biến sâu, thanh trùng, chiết xuất và chưng cất. Mục tiêu của chúng tôi là đưa giá trị tạo ra trên mỗi kilogram nguyên liệu Việt Nam lên cao hơn, thay vì chỉ cố gắng bán được nhiều nguyên liệu hơn.
Còn năng lực tiên phong, theo tôi, chính là dám đi vào những việc khó mà trước đây ít doanh nghiệp làm một cách bài bản: đưa tiêu chuẩn quốc tế về vùng núi, tổ chức hàng nghìn hộ dân vào chuỗi liên kết, xây dựng hệ thống truy xuất và từng bước chuyển từ xuất khẩu nguyên liệu sang xuất khẩu sản phẩm có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn.
Điểm khác biệt của Vinasamex vì vậy không nằm ở việc chúng tôi có một loại quế khác hoàn toàn với thị trường, mà nằm ở cách chúng tôi tạo ra giá trị từ quế và hồi. Chúng tôi muốn khách hàng quốc tế khi mua một sản phẩm Vinasamex có thể nhìn thấy phía sau sản phẩm đó là vùng nguyên liệu, người nông dân, tiêu chuẩn, công nghệ, trách nhiệm xã hội và một cam kết phát triển bền vững.
Theo tôi, doanh nghiệp Việt Nam sẽ rất khó đi xa nếu chỉ cạnh tranh bằng giá. Vinasamex lựa chọn cạnh tranh bằng chất lượng, khả năng truy xuất, chế biến sâu và câu chuyện giá trị phía sau sản phẩm.
Mở rộng thị trường, nâng vị thế quế, hồi Việt Nam
- Thời gian tới, Vinasamex sẽ triển khai các hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường và nâng giá trị quế, hồi Việt Nam ra sao, đặc biệt tại những thị trường có yêu cầu cao về chất lượng và phát triển bền vững?
Bà Nguyễn Thị Huyền: Khi bước ra quốc tế, doanh nghiệp Việt Nam thường phải trả lời một câu hỏi rất thực tế: “Tại sao khách hàng nên lựa chọn sản phẩm của Việt Nam thay vì một nguồn cung khác?”
Thương hiệu quốc gia giúp chúng tôi có thêm một nền tảng uy tín để trả lời câu hỏi đó. Nhưng quan trọng hơn, chúng tôi phải biến uy tín đó thành năng lực thực tế: sản phẩm tốt hơn, quản trị tốt hơn, truy xuất minh bạch hơn và năng lực cung ứng chuyên nghiệp hơn.
Trong hoạt động xúc tiến thương mại, Vinasamex sẽ sử dụng Thương hiệu quốc gia như một dấu hiệu về uy tín của doanh nghiệp Việt Nam khi tiếp cận các nhà nhập khẩu, hệ thống phân phối, nhà sản xuất thực phẩm, mỹ phẩm, dược phẩm và các đối tác chiến lược quốc tế. Tuy nhiên, mục tiêu lớn hơn của chúng tôi không chỉ là bán thêm quế hay hoa hồi. Điều Vinasamex muốn làm là nâng vị thế của quế, hồi Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Việt Nam có lợi thế rất lớn về nguồn nguyên liệu quế và hồi. Nhưng nếu chỉ dừng ở việc xuất khẩu nguyên liệu thô thì phần giá trị cao nhất vẫn nằm ở các khâu chế biến, nghiên cứu, thương hiệu và phân phối ở nước ngoài. Do đó, chiến lược của Vinasamex trong giai đoạn tới là tiếp tục mở rộng những thị trường có tiêu chuẩn cao, đồng thời đẩy mạnh các sản phẩm chế biến sâu, tinh dầu, dịch chiết và hợp chất tự nhiên.
Tôi mong rằng trong tương lai, khi quốc tế nhắc đến quế và hoa hồi Việt Nam, họ không chỉ nghĩ đến Việt Nam như một vùng cung cấp nguyên liệu lớn, mà nghĩ đến Việt Nam như một quốc gia có năng lực chế biến sâu, có thương hiệu và có những doanh nghiệp đủ khả năng tham gia ở những tầng giá trị cao hơn của chuỗi cung ứng toàn cầu. Nếu Thương hiệu quốc gia giúp chúng tôi tiến nhanh hơn tới mục tiêu đó thì đây mới là giá trị lớn nhất của danh hiệu.

Vinasamex giúp nâng cao sinh kế cho bà con đồng bào dân tộc thiểu số
Chính sách đồng hành để nông sản vùng dân tộc thiểu số vươn ra thế giới
- Từ kinh nghiệm của doanh nghiệp, theo bà, cần thêm những chính sách, cơ chế hỗ trợ nào để ngày càng có nhiều nông sản vùng miền, đặc biệt là sản phẩm của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, có thể xây dựng thương hiệu, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và nâng cao giá trị xuất khẩu?
Bà Nguyễn Thị Huyền: Từ thực tế làm việc nhiều năm tại vùng nguyên liệu miền núi, tôi cho rằng Việt Nam không thiếu những sản phẩm bản địa tốt. Điều chúng ta còn thiếu là một hệ sinh thái đủ mạnh để biến những sản phẩm tốt đó thành những ngành hàng có giá trị cao và có thương hiệu quốc tế.
Theo tôi, có bốn vấn đề rất cần được tháo gỡ.
Thứ nhất là vùng nguyên liệu và tiêu chuẩn. Muốn xuất khẩu vào những thị trường cao cấp thì vùng nguyên liệu phải đáp ứng được hàng loạt yêu cầu về canh tác, truy xuất nguồn gốc, môi trường, xã hội, an toàn thực phẩm và kiểm nghiệm. Đây là những khoản đầu tư rất lớn và kéo dài nhiều năm. Vì vậy, cần có cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp và hợp tác xã xây dựng vùng nguyên liệu đạt tiêu chuẩn quốc tế một cách dài hạn, thay vì hỗ trợ theo từng dự án ngắn hạn.
Thứ hai là vốn. Đây là một điểm nghẽn rất lớn của doanh nghiệp nông nghiệp. Doanh nghiệp phải thu mua nguyên liệu tập trung trong mùa vụ để bảo đảm đầu ra cho người dân, nhưng lại bán hàng trong cả năm. Nếu thiếu vốn lưu động dài hạn với chi phí hợp lý thì doanh nghiệp rất khó duy trì được chuỗi liên kết ổn định.
Thứ ba là công nghệ chế biến sâu. Tôi cho rằng đây là nơi Việt Nam có thể tạo ra bước nhảy lớn nhất về giá trị. Một kilogram nông sản nếu xuất thô chỉ tạo ra một mức giá trị nhất định, nhưng khi được chiết xuất thành tinh dầu, hoạt chất hoặc nguyên liệu chức năng, giá trị có thể tăng lên rất nhiều. Nhà nước nên có những chính sách mạnh hơn về tín dụng, công nghệ, nghiên cứu và chuyển giao để doanh nghiệp đầu tư vào những khâu này.
Thứ tư là thị trường và thương hiệu. Xây dựng một thương hiệu quốc tế rất tốn kém và mất nhiều năm. Các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam, đặc biệt doanh nghiệp xuất phát từ khu vực miền núi, rất cần sự đồng hành mạnh hơn của các cơ quan xúc tiến thương mại và hệ thống thương vụ Việt Nam ở nước ngoài.
Nhưng có một điều tôi cho rằng quan trọng hơn tất cả: chúng ta cần thay đổi cách tiếp cận đối với người dân miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số. Không nên chỉ đặt mục tiêu hỗ trợ họ bán được nông sản với giá cao hơn một vài nghìn đồng mỗi kilogram. Điều cần làm là giúp họ trở thành một phần thực sự của chuỗi giá trị. Khi người dân được đào tạo, biết tiêu chuẩn, hiểu thị trường, có doanh nghiệp bao tiêu, có thu nhập ổn định và nhìn thấy tương lai từ chính vùng đất của mình thì họ sẽ chủ động bảo vệ rừng, bảo vệ vùng nguyên liệu và giữ gìn những tài nguyên bản địa.
Với Vinasamex, tôi luôn tin rằng một chuỗi giá trị chỉ thực sự bền vững khi người đứng ở đầu chuỗi là người nông dân cũng được hưởng lợi từ thành công của sản phẩm ở cuối chuỗi. Đó cũng là cách để nông sản miền núi Việt Nam không chỉ “đi ra thế giới”, mà đi ra thế giới với giá trị xứng đáng hơn, thương hiệu mạnh hơn và vị thế cao hơn.
- Xin cảm ơn bà!
Sản phẩm của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có nhiều lợi thế về nguồn nguyên liệu bản địa, nhưng để nâng giá trị cần một chuỗi liên kết bền vững. Từ vùng trồng quế, hồi, doanh nghiệp đồng hành với người dân trong canh tác, kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Khi được đầu tư chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường, những sản phẩm vốn chỉ được xem là nguyên liệu có thể trở thành hàng hóa có giá trị cao, góp phần cải thiện sinh kế và đưa sản phẩm miền núi Việt Nam vươn ra thế giới.